- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn chị Bùi Hoài M với bị đơn anh Lê Anh T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn ly hôn của chị Bùi Hoài M, xử cho chị Bùi Hoài M và anh Lê Anh T được ly hôn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2023/HNGĐ - ST. Ngày: 26/7/2023. V/v: “Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Thanh Vân.
2. Bà Trần Thị Hằng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Mai Trường Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 96/2023/TLST - HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2023/QĐST - HNGĐ ngày 07/7/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Bùi Hoài M, sinh năm: 1990.
Địa chỉ: Số 268/6, đường Phan Đình Ph, phường 02, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
2. Bị đơn: Anh Lê Anh T, sinh năm: 1994.
Địa chỉ: Tổ dân phố V, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
(Chị M có đơn xin xét xử vắng mặt; anh T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn ly hôn và bản tự khai nguyên đơn chị Bùi Hoài M trình bày: Chị và anh T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2020, trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 02, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Cuộc sống chung của vợ chồng anh chị sảy ra nhiều mâu thuẫn với nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng anh chị bất đồng với nhau về quan điểm sống, lối sống. Không tìm được tiếng nói chung trong gia đình. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ tháng 11/2022 cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị M xác định vợ chồng anh chị có một con chung là cháu Lê Bùi Minh H, sinh ngày 25/4/2023. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định vợ chồng anh chị không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cùng giấy triệu tập tham gia phiên tòa đối với anh Lê Anh T nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do nên không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị M. Xử cho chị Bùi Hoài M và anh Lê Anh T được ly hôn. Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Bùi Minh H, sinh ngày 25/4/2023 cho chị M có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị M xác định vợ chồng không có nên không đặt ra để xem xét, giải quyết.
Về án phí: Buộc chị Bùi Hoài M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tại phiên toà, chị Bùi Hoài M có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Lê Anh T vắng mặt lần thứ 02 mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vắng mặt chị M, anh T theo thủ tục chung là phù hợp.
Về quan hệ hôn nhân: Chị M và anh T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2020 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 02, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án chị M xác định mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã trầm trọng kéo dài, không còn khả năng cải thiện nên chị M giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh T. Chị M cho rằng cuộc sống chung của vợ chồng anh chị từ khi kết hôn cho đến nay đã sãy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng anh chị bất đồng với nhau về quan điểm sống, lối sống. Vợ chồng anh chị không tìm được tiếng nói chung trong gia đình. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ tháng 11/2022 cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T đều vắng mặt. Điều đó chứng tỏ anh T cũng không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị M. Bên cạnh đó từ khi vợ chồng anh chị sống ly thân cho đến nay nhưng trong thời gian sống ly thân tình cảm vợ chồng anh chị cũng không cải thiện được. Đồng thời qua xác minh thì được biết trong thời gian chung sống với nhau vợ chồng anh chị thường xuyên sảy ra mâu thuẫn và xô sát với nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T không lo làm ăn để phát triển kinh tế gia đình. Vì vậy, nếu kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các bên do mâu thuẫn đã kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị M, xử cho chị M và anh T được ly hôn là hoàn T phù hợp.
Về con chung: Chị M xác định vợ chồng anh chị có một con chung là cháu Lê Bùi Minh H, sinh ngày 25/4/2023. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con chung. Xét thấy hiện nay cháu H đang còn nhỏ cần sự chăm sóc của chị M. Nên căn cứ khoản 1 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung là cháu Bùi Minh H, sinh ngày 25/4/2023 cho chị M có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là hoàn T phù hợp.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Do chị M không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị M xác định vợ chồng anh chị không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.
Về án phí: Buộc chị Bùi Hoài M phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 53; khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận đơn ly hôn của chị Bùi Hoài M, xử cho chị Bùi Hoài M và anh Lê Anh T được ly hôn.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Bùi Minh H, sinh ngày 25/4/2023 cho chị Bùi Hoài M có trách nhiệm trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục. Anh Lê Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; Quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
3. Về án phí: Chị Bùi Hoài M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị M đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0012516 ngày 08 tháng 3 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, chị M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm./.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng (02); - VKSND huyện Lâm Hà; - Chi cục THADS huyện Lâm Hà; - Các đương sự; - Cơ quan đăng ký kết hôn; - Lưu AV – HS. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Hữu Dũng |