vanban.org

Bản án 82/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Minh D1, cho ly hôn giữa anh Ngô Minh D1 và chị Huỳnh Thị Thủy N.

Về việc nuôi con chung: 1. Anh Ngô Minh D1 được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng 02 cháu Ngô Minh Q, sinh ngày 03 tháng 5 năm 2007, Ngô Minh T, sinh ngày 03 tháng 7 năm 2013. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa anh D và chị N"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Minh D1, cho ly hôn giữa anh Ngô Minh D1 và chị Huỳnh Thị Thủy N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỒNG NGỰ
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 18-8-2023
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Tấn Dũng.

2. Ông Nguyễn Tuấn Lam.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Diệp Văn Hiếu Nhỏ - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 116/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2023, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2023/QĐXX-ST ngày 14 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Ngô Minh D1, sinh ngày 10 tháng 12 năm 1987; Nơi cư trú: Ấp X, xã BT, huyện TB, tỉnh Đồng Tháp.

2. Bị đơn: Chị Huỳnh Thị Thủy N, sinh ngày 12 tháng 10 năm 1990; Nơi cư trú: Ấp X, xã TP2, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp..

(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 02 năm 2023, bản khai đề ngày 06 tháng 7 năm 2023, nguyên đơn anh Ngô Minh D1 trình bày:

Năm 2005, anh có quen biết với chị Huỳnh Thị Thủy N, qua thời gian tìm hiểu hai bên tiến tới hôn nhân, cả hai có tổ chức lễ cưới, anh và chị cùng về bên gia đình anh sinh sống. Anh và chị Thủy N có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã BT, huyện TB, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 19 tháng 10 năm 2009. Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống với nhau rất hạnh phúc, đến cuối năm 2019 thì hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, sống chung không hợp. Năm 2019, anh đi làm ăn xa, đến cuối năm 2019 chị Nhỏ đem cháu D theo và bỏ nhà ra đi với lý do không muốn sống cùng anh nữa, tính đến nay đã 03 năm, mặc dù anh có cố gắng liên lạc để hàn gắn nhưng không thành. Anh nhận thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn nữa, không hàn gắn tình cảm được nữa, nên anh làm đơn yêu cầu cho anh được ly hôn với chị Huỳnh Thị Thủy N. Về con chung: Hai vợ chồng anh sống chung với nhau có 03 con chung tên là Ngô Minh Q, sinh ngày 03 tháng 5 năm 2007, Ngô Minh T, sinh ngày 03 tháng 7 năm 2013 và Ngô Thành D, sinh ngày 14 tháng 5 năm 2019, cháu Q và cháu T hiện tại đang sống cùng anh, cháu D hiện đang sống cùng mẹ. Nay anh yêu cầu cho anh được quyền nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Q và cháu T, còn chị Thủy N nuôi dưỡng cháu D, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với chị Huỳnh Thị Thủy N đã được Toà án triệu tập để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự nhưng anh từ chối không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử.

Tại bản khai ngày 06 tháng 7 năm 2023 của cháu Ngô Minh Q trình bày: Ba mẹ ly hôn con ở với ba.

Tại bản khai ngày 06 tháng 7 năm 2023 của cháu Ngô Minh T trình bày: Ba mẹ ly hôn con ở với ba.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Ngô Minh D1 được ly hôn với chị Huỳnh Thị Thủy N; về nuôi con chung: Giao 02 cháu Ngô Minh Q, sinh ngày 03 tháng 5 năm 2007, Ngô Minh T, sinh ngày 03 tháng 7 năm 2013 cho anh Được tiếp tục nuôi dưỡng và giao cháu Ngô Thành D, sinh ngày 14 tháng 5 năm 2019 cho chị Thủy N tiếp tục nuôi dưỡng, anh Minh D1 và chị Thủy N không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Minh D1 không yêu cầu, còn chị Thủy N không có văn bản ghi ý kiến; về tài sản chung và nợ chung: Anh Ngô Minh D1 trình bày không có, còn chị Huỳnh Thị Thủy N không có văn bản ghi ý kiến, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Nguyên đơn anh Ngô Minh D1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn chị Huỳnh Thị Thủy N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Ngô Minh D1 và chị Huỳnh Thị Thủy N là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của anh Ngô Minh D1 đối với chị Huỳnh Thị Thủy N, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo trình bày của anh Ngô Minh D1 thì cuộc sống của anh và chị Huỳnh Thị Thủy N không hạnh phúc từ cuối năm 2019 thì hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, sống chung không hợp và anh chị đã không còn sống chung từ năm 2019 cho đến nay mà không hàn gắn tình cảm được. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của anh Minh D1 với chị Thủy N hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của anh Minh D1 là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho anh Minh D1 ly hôn với chị Thủy N.

Về việc nuôi con: Anh Ngô Minh D1 yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung Ngô Minh Q, sinh ngày 03 tháng 5 năm 2007, Ngô Minh T, sinh ngày 03 tháng 7 năm 2013 và giao cháu Ngô Thành D, sinh ngày 14 tháng 5 năm 2019 cho chị Huỳnh Thị Thủy N nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi anh Minh D1 và chị Thủy N không còn sống chung và hiện nay thì 02 cháu Minh Q, Minh T do anh Được chăm sóc, nuôi dưỡng, 02 cháu cũng có nguyện vọng ở với ba, còn cháu Thành D do chị Thủy N chăm sóc, nuôi dưỡng, vì vậy để ổn định việc sinh hoạt, học tập của các cháu, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh Minh D1 được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 cháu Minh Q, Minh T, còn chị Thủy N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Thành D, anh Minh D1 và chị Thủy N không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Minh D1 không có yêu cầu, còn chị Thủy N không có văn bản ghi ý kiến, nếu chị Thủy N có yêu cầu thì chị được quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.

Về chia tài sản: Anh Ngô Minh D1 cho rằng không có, nên không yêu cầu giải quyết, còn chị Huỳnh Thị Thủy N không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến..

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 229, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Minh D1, cho ly hôn giữa anh Ngô Minh D1 và chị Huỳnh Thị Thủy N.

2. Về việc nuôi con chung:

2.1. Anh Ngô Minh D1 được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng 02 cháu Ngô Minh Q, sinh ngày 03 tháng 5 năm 2007, Ngô Minh T, sinh ngày 03 tháng 7 năm 2013.

2.2. Chị Huỳnh Thị Thủy N được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng cháu Ngô Thành D, sinh ngày 14 tháng 5 năm 2019.

2.3. Anh Ngô Minh D1 và chị Huỳnh Thị Thủy N không phải cấp dưỡng nuôi con.

2.4. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí sơ thẩm: Anh Ngô Minh D1 chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004435 ngày 16 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ