vanban.org

Bản án 82/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La Tuyên án 22/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lầu A P (Tên gọi khác: Lầu A Ch) phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lầu A P 26 (Hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/05/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lầu A P (Tên gọi khác: Lầu A Ch) phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lầu A P (Tên gọi khác: Lầu A Ch) phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VÂN HỒ
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2022/HS-ST.
Ngày: 22 - 8 - 2022.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trịnh Lương Hữu

Ông Mùi Văn Huấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hằng Giang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Tráng A Trư – Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Sơn La

- Kiểm sát viên: Ông Hoàng Văn Điệp

- Thư ký Tòa án: Ông Bàn Văn Sơn

Ngày 22 tháng 8 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Sơn La xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 99/2022/TLST- ST ngày 05 tháng 08 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:

Lầu A P; tên gọi khác: Lầu A C, sinh năm 1985, sinh tại huyện V, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản B, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 1/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lầu A N, sinh năm 1962 và bà Vàng Thị L, sinh năm 1961; bị cáo có vợ là Vàng Thị C, sinh năm 1984 (Đã ly hôn) và 02 con; con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2003.

Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 125/2019/HSST ngày 08/7/2019 của Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt Lầu A P 21 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Ngày 16/10/2020 Lầu A P đã chấp hành xong bản án.

Tiền sự : Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 03/05/2022 cho đến nay. Tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần. Có mặt.

- Những người tham gia tố tụng khác: Ông Lò Văn Ng, ông Mùa A S, Đội hỗ trợ tư pháp Công an huyện V. Tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 03/5/2022, Lầu A P, sinh năm: 1985, trú tại: Bản B, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La điều khiển xe máy BKS: 26H7 – 5992 đi đến khu vực Pha Đ thuộc địa phận bản P, xã V, huyện V để tìm gốc cây đào bán lấy tiền. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, P gặp một người đàn ông dân tộc Mông, không biết tên và địa chỉ. Qua trao đổi, P đã hỏi và mua được của người đàn ông dân tộc Mông đó 02 viên Hồng phiến và một ít Heroine với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, P nghiền nhỏ 02 viên Hồng phiến trộn lẫn với Heroine sau đó dùng mảnh nilon gói chung thành một gói, rồi cất giấu vào trong túi quần bên phải đang mặc trên người. Sau đó P tiếp tục đi tìm gốc cây đào. Đến 22 giờ 40 phút cùng ngày, P điều khiển xe máy BKS: 26H7 – 5992 đi về đến Km 00 + 700m tỉnh lộ 102 thuộc địa phận Bản B, xã V, huyện V thì bị Tổ công tác Đội cảnh sát giao thông – Trật tự Công an huyện V làm nhiệm vụ yêu cầu P dừng lại để kiểm tra, có gì liên quan đến ma túy thì tự giác giao nộp. P đã tự giác lấy từ trong lòng bàn tay phải ra giao nộp cho tổ công tác: 01 gói nilon màu đen, tiếp đến là 02 lớp nilon màu xanh, tiếp đến là lớp nilon màu trắng, bên trong đựng chất bột màu trắng, hồng nghi là ma túy. P khai nhận là gói ma túy loại Heroine và Hồng phiến của P, cất giấu để sử dụng cho bản thân nghiện chất ma túy. Thu giữ của P: 01 chiếc xe máy BKS: 26H7 – 5992. Căn cứ vào hành vi vi phạm của Lầu A P, tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong vật chứng nghi là ma túy và dẫn giải P về trụ sở Công an huyện V bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an huyện V điều tra, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ngày 03/5/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện V và phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành cân tịnh xác định khối lượng hỗn hợp chất bột màu trắng hồng nghi là ma túy thu giữ của Lầu A P có tổng khối lượng 0,62 gam; lấy toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu P. Mẫu giám định ký hiệu P được bàn giao cho Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại ma túy.

Kết luận giám định số: 779 ngày 05/5/2022 của phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La đã kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu P là ma túy

; Loại Heroine và Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gử i giám định là 0,62 gam; Tổng khối lượng chất ma tuý thu giữ được là 0,62 gam; loại Heroine và Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giá m đi ̣nh : Chất bột màu trắng hồng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu P, không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng 0,38 gam”

Cáo trạng số: 72/CT-VKS ngày 03/08/2022 của Viện kiểm sát nhân huyện V, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Lầu A P về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới ảnh hưởng đến nội dung vụ án, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố Lầu A P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lầu A P từ 24 (Hai mươi tư) tháng tù đến 30 (Ba mươi) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự :

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu + vỏ gói ban đầu; 01 phong bì niêm phong que thử ma tuý đối với Lầu A P; 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở + chất bột màu trắng, hồng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu P không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng P = 0,38 gam;

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc xe mô tô vỏ ngoài có chữ DREAM II, màu trắng, đen, nâu BKS: 26H7 – 5992.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố và luận rội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì khác.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

. Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, Lời khai của người chứng kiến, Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can; cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ; thể hiện: Ngày 03/5/2022, Lầu A P đã có hành vi cất giấu trái phép 0,62 gam Heroine và Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Đội cảnh sát giao thông – Trật tự Công an huyện V làm nhiệm vụ tại khu vực Bản B, xã V, huyện V phát hiện, bắt quả. Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lầu A P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án 21 (Hai mươi mốt) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng là tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng mức án nghiêm khắc tương sứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Bị cáo Lầu A P đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy bị cáo không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng của vụ án:

- Đối với: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu + vỏ gói ban đầu; 01 phong bì niêm phong que thử ma tuý đối với Lầu A P; 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở + chất bột màu trắng, hồng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu P không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng P = 0,38 gam là vật cấm lưu hành hoặc không còn giá trị sử dụng tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 chiếc xe mô tô vỏ ngoài có chữ DREAM II, màu trắng, đen, nâu BKS: 26H7 – 5992 là tài sản của bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Về nguồn gốc chất ma túy: Lầu A P khai mua được của một người đàn ông dân tộc Mông, khoảng 50 tuổi, không biết tên và địa chỉ. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

2. Tuyên bố bị cáo Lầu A P (Tên gọi khác: Lầu A Ch) phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Xử phạt bị cáo Lầu A P 26 (Hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/05/2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu + vỏ gói ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma tuý đối với Lầu A P; 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở + chất bột màu trắng, hồng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu P không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng P = 0,38 gam;

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc xe mô tô vỏ ngoài có chữ DREAM II, màu trắng, đen, nâu BKS: 26H7 – 5992.

Theo biên bản giao nhận vật chứng số 94/BBVC-CCTHA ngày 08/08/2022.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ