vanban.org

Bản án 82/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 20/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Hải Y phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Lê Hải Y 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/6/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hải Y - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Hải Y phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ LƯƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2022/HS-ST
Ngày 20-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thanh Tùng;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Văn Khởi;

Bà Đặng Thị Đào;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Trọng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 73/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2022 bằng hình thức trực tuY. Trong đó: Điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên; Điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ Công an huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Hải Y, - Sinh ngày 15/6/1982; tại tỉnh T;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: xóm H, xã P1, huyện P, tỉnh T;

Giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Đức Thuận, sinh năm 1957 và bà Cao Thị Y1, sinh năm 1957; Có vợ Trương Thị L sinh năm 1987; Con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2015;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/06/2022 hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phú Lương. (có mặt)

- Người chứng kiến: Ông Hoàng Đình Nh, sinh năm 1968;(vắng mặt).

Địa chỉ: xóm K, xã H, huyện P, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 15 phút ngày 24/6/2022 tại đường bê tông thuộc xóm K, xã H, huyện Phú Lương, tổ công tác Công an xã H phát hiện Lê Hải Y nghi có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thu giữ trong lòng bàn tay trái của Y 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Gold Lion, bên trong có 01 gói chất bột màu trắng gói bên ngoài bằng lớp giấy bạc màu vàng (Y khai là ma tuý loại Heroine, mua để sử dụng cho bản thân); thu trong túi áo ngực bên trái Y đang mặc 01 bơm kim tiêm loại 3ml, 01 lọ nước cất Novocain 3% chưa sử dụng, Y khai là công cụ để sử dụng ma tuý. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Hải Y, thu giữ vật chứng, niêm phong vỏ bao thuốc lá Gold Lion chứa gói chất bột màu trắng vào phong bì ký hiệu H, niêm phong 01 bộ bơm kim tiêm, 01 lọ nước cất vào phong bì ký hiệu L và chuyển toàn bộ hồ sơ, vật chứng cùng Lê Hải Y đến Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Lương để điều tra theo thẩm quyền. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Hải Y không phát hiện, thu giữ gì có liên quan

Cùng ngày, tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Lê Hải Y có khối lượng 0,135 gam, niêm phong trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định.

Tại bản Kết luận giám định số 963/KL-KTHS ngày 02/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong bì niêm phong kí hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,135 gam.

Tại Cơ quan điều tra Lê Hải Y khai nhận: Bản thân Y là người nghiện ma tuý. Khoảng 11 giờ ngày 24/6/2022, Y một mình đi bộ từ nhà tại xóm Hiệp Hoà, xã P1, huyện Phú Lương đến hiệu thuốc tân dược (không nhớ rõ tên) gần UBND xã P1, mua 01 xi lanh nhựa màu trắng và 01 lọ nước cất nhãn hiệu Novocain loại 3ml với giá 5.000đ, rồi cất vào túi áo ngực bên trái. Sau đó, Y đi nhờ xe mô tô của người đi đường không quen biết, đến khu vực Trạm y tế xã H cũ thì xuống xe, tại đây Y gặp và mua của một người nam giới khoảng 40 tuổi ( Y không rõ tên tuổi, địa chỉ) 01 gói ma tuý loại Heroine với giá 200.000 đồng, rồi đi tìm chỗ sử dụng. Khi đến đoạn đường thuộc xóm K, xã H thì bị tổ công tác xã H phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Về nguồn gốc số tiền mua ma tuý, Y khai do bản thân tự lao động mà có.

Lời khai nhận của Lê Hải Y phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến.

Tại bản cáo trạng số 75/CT-VKSPL ngày 23/8/2022, Viện Kiểm sát nhân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Lê Hải Y về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Phần luận tội tại phiên tòa hôm nay, sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố Lê Hải Y phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Hải Y từ 18 đến 24 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng theo quy định.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phần tranh luận: Bị cáo nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên, Công an huyện Phú Lương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Xét về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai Nh toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai Nh tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ căn cứ để xác định:

Hồi 11 giờ 15 phút ngày 24/6/2022, tại xóm K, xã H, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Lê Hải Y có hành vi tàng trữ trái phép 0,135 gam ma tuý loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị công an xã H, huyện Phú Lương phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.

…

c) Heroine…có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Lê Hải Y về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất của vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Đây là một trong những nguyên nhân gây ra những tệ nạn xã hội khác. Việc đưa bị cáo Lê Hải Y ra truy tố và xét xử là cần thiết để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Bị cáo là người nghiện ma túy. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, thực hiện hành vi mà nhà nước cấm nên cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, buộc cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung, xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy hiện đang bị tạm giam, không có thu nhập, không có tài sản riêng, gia đình thuộc hộ nghèo nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định thuộc danh mục chất gây nghiện, Nhà nước cấm sử dụng, lưu hành, mua bán; các vỏ phong bì niêm phong và vỏ giấy gói, bơm kim tiêm và 01 lọ nước cất không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo của địa phương theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí. Tại phiên tòa bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét miễn án phí cho bị cáo. Đề nghị của bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận. Vì vậy bị cáo không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc số ma túy bị cáo khai mua của người đàn ông khoảng 40 tuổi (không rõ tên tuổi, địa chỉ), do đó, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để tiếp tục điều tra làm rõ.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác là phù hợp, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Lê Hải Y phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Lê Hải Y 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/6/2022.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

* Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên ngoài ghi: Hoàn trả 0,115 gam mẫu còn lại sau giám định ký hiệu A1 và vỏ bao gói mẫu;

- 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên ngoài ghi: Mẫu lưu kho thu giữ của Lê Hải Y ngày 24/6/2022

- 01 (một) bì niêm phong ký hiệu L, bên ngoài ghi: Bê trong có 01 (một) bơm kim tiêm và 01 (một) lọ nước cất nhãn hiệu NOVOCAIN chưa qua sử dụng.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao Nh số 94/2022 ngày 07/9/2022 giữa Công an huyện Phú Lương và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Lương)

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi Nh:

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Phú Lương;

- TAND tỉnh Thái Nguyên;

- VKSND tỉnh Thái Nguyên;

- Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;

- Công an huyện Phú Lương;

- Chi cục THADS huyện Phú Lương;

- Cơ quan THAHS - Công an tỉnh TN;

- Trại tạm giam Công an tỉnh TN;

- Bị cáo;

Lý Thanh Tùng

- Hồ sơ THAHS;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Thanh Tùng

Cỡ chữ