vanban.org

Bản án 82/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Tấn P được ly hôn bà Lê Thị N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Tấn P- Lê Thị N"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 320 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAM RANH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 10/11/2022
Về việc: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH

TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Nhị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh: Bà Ngô Thị Nhật – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 154/2022/TLST-HNGĐ ngày 11/10/2022, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn P, sinh năm 1984

Địa chỉ: Tổ dân phố M, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt)

* Bị đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1988

Địa chỉ: Tổ dân phố M, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Tấn P trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: ông Nguyễn Tấn P và bà Lê Thị N tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2013, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 36, quyển số I năm 2013.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông P hay đi chơi với bạn bè khiến bà N ghen tuông, có nhiều lời lẽ sỉ nhục ông. Nay 02 vợ chồng đã sống mỗi người một nơi. Đến nay tình cảm đã hết nên ông yêu cầu được ly hôn vói bà N.

- Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên là Nguyễn Vinh P1, sinh ngày: 16/02/2014 và Nguyễn Minh T, sinh ngày 18/6/2016.

Ông yêu cầu giao 02 con chung cho bà N nuôi dương, giáo dục, ông sẽ cấp dưỡng nuôi con 10.000.000đồng/tháng/02 cháu (trung bình mỗi tháng 5.000.000 đồng/cháu).

- Về tài sản chung: Ông không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai, bà Lê Thị N trình bày: Quá trình kết hôn đúng như ông P đã khai. Nay bà không đồng ý ly hôn vì các con còn nhỏ, cần cha mẹ để không thua thiệt, mặc cảm với bạn bè.

* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính); Căn cước công dân Nguyễn Tấn P, Lê Thị N (bản sao);; Trích lục khai sinh Nguyễn Vinh P1, Nguyễn Minh T (bản sao).

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: ông Nguyễn Tấn P được ly hôn với bà Lê Thị N; giao cho bà N nuôi dưỡng 02 con chung, ông P cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 10.000.000 đồng (Trung bình mỗi con 5.000.000đồng/tháng); nguyên đơn không yêu cầu giải quyết tài sản chung, nợ chung nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Ông Nguyễn Tấn P có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh giải quyết ly hôn đối với bà Lê Thị N1. Vì vậy, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Lê Thị N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng cố tình vắng mặt, căn cứ vào điều 320 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

Ông Nguyễn Tấn P và bà Lê Thị N tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 36 ngày 02 tháng 5 năm 2013 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, ông Nguyễn Tấn P và bà Lê Thị N không thương yêu, tôn trọng lẫn nhau. Bà N không đồng ý ly hôn nhưng bà lại cố tình vắng mặt tại phiên tòa và không đưa ra được biện pháp để hóa giải mâu thuẫn, hàn gắn quan hệ vợ chồng.

Xét thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ và phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Về con chung:

Ông Nguyễn Tấn P và bà Lê Thị N có 02 con chung là Nguyễn Vinh P1, sinh ngày: 16/02/2014 và Nguyễn Minh T, sinh ngày 18/6/2016.

Xét thấy: Khi cha mẹ ly hôn, việc giao con chưa thành niên cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cũng phải nhằm đảm bảo cho con sự phát triển tốt nhất cả về thể chất lẫn tinh thần. Các cháu P1 và T còn nhỏ nên rất cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ. Hiện nay 02 cháu đang do bà N nuôi dưỡng, chăm sóc và cháu Nguyễn Vinh P1 có đơn nguyện vọng xin được ở với me. Vì vậy, việc giao cho bà N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Mặc dù bà N vắng mặt tại phiên tòa, không thể hiện yêu cầu nhưng Tòa án ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Tấn P về việc cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 10.000.000 đồng (trung bình mỗi cháu 5.000.000 đồng/tháng) kể từ tháng 11/2022 cho đến khi các cháu lần lượt đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Ông Nguyễn Tấn P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Ông Nguyễn Tấn P nộp 150.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và 150.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ:

- Điều 28, Điều 35, Điều 39 và Điều 320 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Tấn P được ly hôn bà Lê Thị N.

2. Về con chung: Giao cho bà Lê Thị N được nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là Nguyễn Vinh P1, sinh ngày: 16/02/2014 và Nguyễn Minh T, sinh ngày 18/6/2016.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Tấn P về việc cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 10.000.000 đồng (trung bình mỗi cháu 5.000.000 đồng/tháng) kể từ tháng 11/2022 cho đến khi các cháu Nguyễn Vinh P1 và Nguyễn Minh T lần lượt đủ 18 tuổi.

Vì lợi ích các con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc con chung; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

3. Về tài sản chung: Ông Nguyễn Tấn P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

4. Về án phí: Ông Nguyễn Tấn P phải nộp 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về “Ly hôn” và 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về “Cấp dưỡng nuôi con” nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2022/0000204 ngày 07/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh. Như vậy, ông Nguyễn Tấn P tiếp tục phải nộp 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Quy định: Kể từ ngày bà Lê Thị N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Nguyễn Tấn P chưa thi hành khoản tiền phải cấp dưỡng nuôi con thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.

5. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc từ ngày niêm yết bản án sơ thẩm.

Cỡ chữ