- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Đức L - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341 Luật…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Vũ Đức L 01 (một) năm Cải tạo không giam giữ, về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
- Căn cứ chính? Điều 36 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2021/HS-PT Ngày 10- 11- 2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tài Sử.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Chiến, ông Lê Quốc Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Hải Thịnh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 10-11-2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 98/2021/TLPT-HS ngày 19 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo Vũ Đức L , do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2021/HS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Nông.
- Bị cáo kháng cáo: Vũ Đức L, sinh năm 1994 tại tỉnh Nam Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Thợ Mộc; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đình D (đã chết) và bà Trần Thị N; có vợ là Phạm Thị HN và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; Nguyên là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. Bị cáo đang được tại ngoại - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu năm 2020, trong lần về quê ở Nam Định, Nguyễn Viết T biết được người cùng thôn là ông Nguyễn Xuân K (Là người xã X, huyện X, tỉnh Nam Định), đang làm thợ xây ở thành phố B, tỉnh Đồng Nai có thể làm được giấy phép lái xe mô tô, hạng A1 mà không cần phải qua học, thi sát hạch (giấy phép lái xe mô tô giả). Do muốn có giấy phép lái xe mô tô giả cho vợ là Võ Thị T sử dụng nên khoảng cuối tháng 9/2020 T gọi điện thoại cho K nhờ làm giấy phép lái xe mô tô giả thì được K đồng ý, K nói chỉ cần nộp 04 (bốn) ảnh 3x4, 01 (một) bản pho to giấy chứng minh nhân dân (CMND) và số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) là được. Sau đó vào khoảng đầu tháng 10/2020 T đã gặp và kể cho một số người về việc mình có thể làm được giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mà không cần học, thi sát hạch thì được một số người nhờ làm, cụ thể:
Khoảng đầu tháng 10/2020, T đi cắt tóc tại tiệm cắt tóc của Nguyễn Thị Th. T nói với Th về việc mình có thể làm được giấy phép lái xe mô tô hạng A1 như trên, nghe vậy Th nhờ T làm 01 (một) giấy phép lái xe mô tô hạng A1 cho con gái là Ngô Thị Mỹ D, T hẹn khi nào nhận được giấy phép lái xe thì mới đưa tiền, khoảng 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) đến 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền chi phí. Khoảng 02 đến 03 ngày sau T đến nhà Th lấy ảnh 3x4 và bản pho to giấy CMND của D.
Vài ngày sau đó Huỳnh Thanh T đến nhà T chơi, trong lúc nói chuyện T đã kể về việc mình có thể làm giấy phép lái xe hạng A1 mà không cần học, thi sát hạch nên T đã nhờ T làm cho con trai là Huỳnh Thanh T thì Nguyễn Viết T đồng ý. T nói T đưa cho T 04 (bốn) ảnh 3x4, 01 (một) bản pho to giấy CMND của Huỳnh Thanh T và số tiền 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng) chi phí. Khoảng 01 tuần sau T đến nhà T lấy ảnh và bản photo giấy CMND và nhận của T số tiền 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng).
Cũng vào khoảng đầu tháng 10/2020, Vũ Đức L đến nhà T hát karaoke, do biết vợ của L là Phạm Thị Hằng N chưa có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 nên T đã hỏi L có muốn làm giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mà không cần học, thi sát hạch cho vợ không thì T làm giúp, chỉ cần cung cấp 04 (bốn) ảnh 3x4, 01 (một) bản photo giấy CMND của N và số tiền 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng) chi phí, L đồng ý, đến ngày hôm sau L đến nhà đưa cho T ảnh và bản photo giấy CMND của N cùng với số tiền 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng).
Sau khi nhận được ảnh, bản photo CMND của những người trên, T gọi điện thoại cho K để nhờ làm tổng cộng 04 (bốn) giấy phép lái xe giả cho: Võ Thị T, Phạm Thị Hằng N, Ngô Thị Mỹ D và Huỳnh Thanh T. K nói T gửi hồ sơ gồm hình thẻ, bản photo giấy chứng minh nhân dân và số tiền 1.600.000 (Một triệu sáu trăm nghìn đồng) cho K về địa chỉ nhà người quen của K là Đinh Thế V, Số 213/21q, tổ 39, khu phố 11, Phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Sau khi nhận được hồ sơ và tiền do T gửi, K đã đưa toàn bộ hồ sơ cùng với số tiền 1.400.000đ (Một triệu bốn trăm nghìn đồng) cho Nguyễn Tiến Th để nhờ làm 04 (bốn) giấy phép lái xe giả. Số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) còn lại K sử dụng cá nhân hết. Khoảng 05 – 06 ngày sau, Th đưa cho K 04 (bốn) giấy phép lái xe mô tô giả đã đặt làm trước đó, K gửi qua bưu điện 04 (bốn) giấy phép lái xe giả mang tên Võ Thị T, Phạm Thị Hằng N, Huỳnh Thanh T và Ngô Thị Mỹ D về cho T tại địa chỉ bon Broih, thị trấn Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông. Ngày 29/10/2020, trong lúc T đang nhận gói bưu phẩm do K gửi thì bị Phòng PC02 Công an tỉnh Đắk Nông phát hiện, thu giữ, sau đó bàn giao cho Công an huyện K điều tra theo thẩm quyền. Sau khi biết hành vi phạm tội bị phát hiện Nguyễn Xuân K đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú, ngày 19/01/2021 K đã đến Trụ sở Công an xã X, huyện X, tỉnh Nam Định đầu thú.
Qúa trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Nông đã thu giữ:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO màu đen, gắn sim 0905926652, số IMEI 1: 865966047709254, số IMEI 2: 865966047709247 của Nguyễn Viết T;
- 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số 671197071465 tên Phạm Thị Hằng N, sinh ngày 02/9/2000 do Sở giao thông vận tải Đắk Nông cấp ngày 20/12/2019;
- 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số 671202091466 tên Ngô Thị Mỹ D, sinh ngày 24/5/2002 do Sở giao thông vận tải Đắk Nông cấp ngày 28/5/2020;
- 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số 670202091476 tên Huỳnh Thanh T, sinh ngày 19/5/2002 do Sở giao thông vận tải Đắk Nông cấp ngày 28/5/2020;
- 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số 671189091475 tên Võ Thị T, sinh ngày 01/01/1975 do Sở giao thông vận tải Đắk Nông cấp ngày 20/4/2018.
Ngoài ra gia đình Nguyễn Xuân K đã giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an huyện K số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) do K nhận của Nguyễn Viết T.
Tại bản kết luận giám định số 212/GĐTL-PC09, ngày 02/11/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông xác định 04 (bốn) giấy phép lái xe đã thu giữ ở trên không phải là do Cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.
Tại bản kết luận giám định số 13/GĐTL-PC09, ngày 16/5/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận: Không phát hiện dấu vết đường vân trên 04 (bốn) giấy phép lái xe gửi giám định.
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2021/HS-ST ngày 14-9-2021 của Tòa án nhân dân huyện K đã quyết định: Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. xử phạt: Bị cáo Vũ Đức L 12 tháng tù, về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Xuân K, Nguyễn Viết T, Huỳnh Thanh T, Nguyễn Thị Th; xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo trong thời hạn luật định cho các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
Ngày 28-9-2021 bị cáo Vũ Đức L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo, sau đó bị cáo bổ sung kháng cáo xin được giảm hình phạt và chuyển từ hình phạt tù sang phạt cải tạo không giam giữ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản án sơ thẩm đã xử.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, khoản 1 Điều 357 BLTTHS sửa bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo 01 năm đến 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng biện pháp khấu trừ thu nhập.
Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Bị cáo Vũ Đức L kháng cáo trong thời hạn luật định nên Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm theo quy định tại Điều 344, 345 của Bộ luật tố tụng hình sự.
. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Vũ Đức L khai nhận: do mong muốn vợ có giấy phép lái xe để sử dụng nên khi nghe thấy Nguyễn Viết T đề nghị về việc mình có thể làm được giấy phép lái xe hạng A1 mà không cần học và thi sát hạch lái xe mà chỉ cần cung cấp 04 tấm ảnh 3x4cm, 01 giấy chứng minh nhân dân photo và số tiền 800.000 đồng thì bị cáo đã đồng ý và gửi ảnh, chứng minh nhân dân photo của vợ là chị Phạm Thị HN và tiền cho Nguyễn Viết T để nhờ T làm giấy làm giấy phép lái xe hạng A1 cho chị Nga mà không cần phải học, thi sát hạch (Hành vi của L chị N hoàn toàn không biết). Khi Nguyễn Viết T đi nhận giấy phép lái xe thì bị cơ quan cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Đăk Nông bắt quả tang. Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Vũ Đức L về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan.
Xét kháng cáo của Vũ Đức L, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 12 tháng tù giam đối với bị cáo Vũ Đức L là quá nghiêm khắc, không công bằng so với các bị cáo khác có cùng tính chất, mức độ trong vụ án, như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nhân thân tốt, giấy phép lái xe chưa nhận được.
Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo Vũ Đức L cung cấp thêm các tài liệu, chứng cứ mới như: Giấy chứng nhận là quân nhân được Trường Quân sự tỉnh Đắk Nông tặng danh hiệu “Chiến sĩ tiên tiến” vì đã có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua quyết thắng năm 2015; Giấy khen của Ban chấp hành Hội nông dân huyện K năm 2020; Giấy khen của Ủy ban nhân dân xã T, huyện K vì đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2020 (Các tài liệu này chưa được cung cấp tại Tòa án cấp sơ thẩm) đây là tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng của bị cáo Vũ Đức L , chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2021/HS-ST ngày 14-9-2021 của Toà án nhân dân huyện K về phần hình phạt đối với bị cáo Vũ Đức L.
Xét thấy bị cáo Vũ Đức L có nhiều hoạt động tích cực cho Đoàn xã, cho Hội nông dân xã T, hoàn cảnh gia đình của bị cáo gặp nhiều khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không áp dụng biện pháp miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Vũ Đức L. Tuy nhiên bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo khoản 4 Điều 36 Bộ luật Hình sự.
. Về án phí: Do được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo Vũ Đức L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Đức L, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2021/HS-ST ngày 14-9-2021 của Toà án nhân dân huyện K về phần hình phạt của bị cáo Vũ Đức L.
Áp dụng khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 4 Điều 36 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Đức L 01 (một) năm Cải tạo không giam giữ, về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Giao bị cáo Vũ Đức L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Vũ Văn L.
Bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo khoản 4 Điều 36 của Bộ luật hình sự và phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Vũ Đức L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Tp. HCM; - VKSND CC tại TP HCM; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Phòng HSNVCS – CA tỉnh Đắk Nông; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - CQ CSĐT Công an huyện K; - VKSND huyện K; - Chi cục THADS huyện K; - TAND huyện K; - UBND xã Tân Thành, huyện K; - Bị cáo; - Lưu HSVA, tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký Nguyễn Tài Sử |