vanban.org

Bản án 82/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Danh Cẩm T, cho chị Danh Cẩm T ly hôn với anh Lý H

Về con chung: Đình chỉ yêu cầu về giải quyết vấn đề con chung giữa chị T và anh H. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét giải quyết do không có yêu cầu Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "danh cẩm tiên - lý hùng"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Danh Cẩm T, cho chị Danh Cẩm T ly hôn với anh Lý H
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PL
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2021/HNGĐ - ST
Ngày: 15/10/2021
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PL

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Thanh Liêm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Dương Thị Tú Phương

2. Ông Trần Văn Phước

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Tạ Văn Cung - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện PL, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PL: Bà Lý Thị Nhiên - Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện PL xét xử công khai vụ án thụ lý số 55/2021/TLST - HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2021/QĐST - HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Danh Cẩm T, sinh năm 1995. Địa chỉ: Ấp Bình Lễ, xã Vĩnh Phú Tây, huyện PL, tỉnh Bạc liêu

- Bị đơn: Anh Lý H, sinh năm 1992. Địa chỉ: Ấp Bình Lễ, xã Vĩnh Phú

Tây, huyện PL, tỉnh Bạc liêu

(Chị Danh Cẩm T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Lý H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện của nguyên đơn và các lời khai tại Tòa án là chị Danh Cẩm T trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Danh Cẩm T và anh Lý H kết hôn với nhau vào năm 2014, hôn nhân trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Phú Tây và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 22/9/2018. Sau khi kết hôn thì vợ chồng ban đầu chung sống với nhau hạnh phúc, thời gian gần đây bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, đã sống ly thân gần 01 năm nay. Do nhận thấy đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Tiến.

- Về con chung: Quá trình sống chung giữa chị T và anh H có với nhau 02 người con chung là Lý Kim N, sinh ngày 13/5/2014 và Lý H1, sinh ngày 17/03/2018. Hiện nay cả 02 người con đang sống với chị T. Khi ly hôn tôi yêu cầu nuôi 02 người con trên. Không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Đến ngày 06/10/2021, chị T có đơn yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Lý H đã được Tòa án nhân dân huyện PL tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh H vẫn vắng mặt, không có lý do và không có ý kiến gửi cho Tòa án.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PL phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên vẫn còn vi phạm tại Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự về việc gửi quyết định đưa vụ án ra xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát; đối với nguyên đơn đã thực hiện Tiến đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chị Danh Cẩm T và anh Lý H có đăng ký kết hôn theo quy định nên hôn nhân giữa chị T và anh H là hợp pháp. Quá trình sống chung vợ chồng không hạnh phúc, đã sống ly thân. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, cho chị T ly hôn với anh H;

+ Về con chung: Có 02 người con chung là Lý Kim Ngân, sinh ngày 13/5/2014 và Lý Hải, sinh ngày 17/03/2018. Khi ly hôn chị T yêu cầu nuôi 02 người con. Đến ngày 06/10/2021, chị T có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề con chung. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS đình chỉ yêu cầu khởi kiện đối với phần này của chị T.

+ Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét giải quyết do không có yêu cầu

+ Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét giải quyết do không có yêu cầu

+ Về án phí: Chị T phải chịu theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về Thủ tục tố tụng: Chị Danh Cẩm T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn, nuôi con với anh Lý H là tranh chấp về hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện PL, tỉnh Bạc Liêu. Anh Lý H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, chị Danh Cẩm T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt chị T, anh H là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị Danh Cẩm T và anh Lý H sống chung từ năm 2014 và có đăng ký kết hôn theo đúng quy định. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị T, anh H là hợp pháp, tuy nhiên trong quá trình sống chung chị T và anh H xảy ra mâu thuẫn, đã sống ly thân từ đầu năm 2020 đến nay. Xét thấy, theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình, sống chung với nhau nhưng chị T và anh H đã sống ly thân gần 01 năm nay. Từ khi sống ly thân đến nay, hai bên không có biện pháp nào để hàn gắn mối quan hệ hôn nhân. Từ đó cho thấy hôn nhân giữa chị Danh Cẩm T và anh Lý H lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị T và anh H có 02 người con chung là Lý Kim N, sinh ngày 13/5/2014 và Lý H1, sinh ngày 17/03/2018. Khi ly hôn chị T yêu cầu nuôi 02 người con. Đến ngày 06/10/2021, chị T có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề con chung. Hội đồng xét xử xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của chị T là tự nguyện, không ai ép buộc và đúng quy định pháp luật. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS đình chỉ yêu cầu khởi kiện đối với phần này của chị T.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Danh Cẩm T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Danh Cẩm T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết

Về án phí: Chị Danh Cẩm T phải chịu 300.000 đồng.

Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 217, 227, 228, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Danh Cẩm T, cho chị Danh Cẩm T ly hôn với anh Lý H

- Về con chung: Đình chỉ yêu cầu về giải quyết vấn đề con chung giữa chị T và anh H.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét giải quyết do không có yêu cầu

- Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét giải quyết do không có yêu cầu

- Về án phí: Chị Danh Cẩm T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đ ng), chị T đã nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai số 0009934 ngày 08 tháng 3 năm 2021 của Cục thi hành án dân sự huyện PL được chuyển thu án phí.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ