- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Các Điều 207; 227; 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2020/ST - HNGĐ Ngày 12/8/2020 V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Bảo.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Thanh Hiền
2. Bà La Thị Huyền
Thư ký phiên tòa: Ông Ngân Mai Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2020/TLST - HNGĐ ngày 07/5/2020 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2020/QĐXX – DS ngày 29 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lô Thị Thu H, sinh năm 1996.
2. Bị đơn: Anh Vi Văn Đ, sinh năm 1986. Đều có địa chỉ tại: Bản KĐ, xã TN, huyện CC, tỉnh NA. Chị H có mặt, anh Đ vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, lời trình bày tại Tòa án và tại phiên tòa chị Lô Thị Thu H trình bày: Chị với anh Vi Văn Đ kết hôn với nhau vào ngày 25/02/2014 tại Ủy ban nhân dân xã TN, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng chị chung sống hạnh phúc được một thời gian. Đến đầu năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do anh Đ không chịu khó làm ăn, không chăm lo cho gia đình, vợ, con và đã nhiều lần đánh chị. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình cũng như chính quyền địa phương hòa giải nhưng không có kết quả. Hiện nay vợ chồng đang sống ly thân. Nay tình cảm vợ chồng thực sự không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Vi Văn Đ.
Về con chung: Chị và anh Vi Văn Đ có hai con chung tên là Vi Gia Ph, sinh ngày 30/8/2010 và Vi Thị Huyền Tr, sinh ngày 15/01/2013, từ khi vợ chồng ly thân đến nay các con đều ở với chị. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cả hai con và không yêu cầu anh Vi Văn Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Lô Thị Thu H không cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Hiện nay chị và anh Vi Văn Đ không nợ một tổ chức và cá nhân nào.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm anh Vi Văn Đ đều vắng mặt mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng anh Đ không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật.
Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông về đường lối giải quyết vụ án khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giao con chung cho chị Lô Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn phần cấp dưỡng nuôi con cho anh Vi Văn Đ, miễn toàn bộ án phí ly hôn cho chị Lô Thị Thu H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình, bị đơn hiện cư trú tại xã TN, huyện Con Cuông nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa lần thứ nhất ngày 14/7/2020 bị đơn đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã ra Quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn đã được niêm yết Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Đ là đúng với quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Lô Thị Thu H và anh Vi Văn Đ có đăng ký kết hôn tại UBND xã TN, huyện CC, tỉnh NA trên cơ sở tự nguyên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống do anh Đ không chịu khó làm ăn, không chăm lo đến gia đình và vợ con, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân đã lâu. Tại phiên tòa anh Đ vắng mặt nhưng qua xác minh tại địa phương cho thấy chị H và anh Đ thường xuyên xảy ra cãi vã, thậm chí đánh nhau. Xét tình cảm vợ chồng giữa chị Lô Thị Thu H và anh Vi Văn Đ thật sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lô Thị Thu H là có căn cứ.
Về con chung: Chị Lô Thị Thu H và anh Vi Văn Đ có hai người con chung tên là Vi Gia Ph, sinh ngày 30/8/2010 và Vi Thị Huyền Tr, sinh ngày 15/01/2013, từ khi vợ chồng ly thân đến nay các cháu đều ở với chị H. Nay ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi cả hai con cho đến khi các con trưởng thành. Quá trình giải quyết cháu Cháu GP và cháu Cháu Tr đều có nguyện vọng được ở vớ mẹ. Để đảm bảo cuộc sống tốt nhất cho cháu Cháu GP và cháu Cháu Tr. Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao cho Lô Thị Thu H chị trực tiếp nuôi dưỡng các cháu cho đến lúc các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lô Thị Thu H không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Lô Thị Thu H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét. Nếu sau này anh Vi Văn Đ có yêu cầu thì Tòa án sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
Về án phí: Chị Lô Thị Thu H là người dân tộc, sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên miễn toàn bộ án phí cho chị H.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Các Điều 207; 227; 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lô Thị Thu H ly hôn anh Vi Văn Đ.
Về con chung: Giao cháu Vi Gia Ph, sinh ngày 30/8/2010 và Vi Thị Huyền Tr, sinh ngày 15/01/2013 cho chị Lô Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Cháu GP và cháu Cháu Tr tròn 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Vi Văn Đ. Anh Vi Văn Đ có quyền thăm non, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vì lợi ích mọi mặt của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con.
Về án phí: Áp dụng điều 147 BLTTDS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí ly hôn cho chị Lô Thị Thu H. Hoàn trả cho chị Lô Thị Thu H số tiền 300.000 đồng chị H đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0001545 ngày 07/5/2020.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NA; - VKSND huyện Con Cuông; - Chi cục THADS huyện Con Cuông; - Nguyên đơn, bị đơn; - UBND xã TN; - Lưu hồ sơ -VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Văn Bảo |