vanban.org

Bản án 82/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An Tuyên án 27/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân Việt và DB - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 82/2020/HSST
Ngµy: 27/08/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn K

- Héi thÈm nh©n d©n: +. Ông: Hoàng Văn H

+. Bà : Đoàn Thị Q

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị H – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Bùi Nguyên N - Kiểm sát viên.

Ngày 27/08/2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, Tòa án nhân dân huyện Đô Lương mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 76/2019/HSST ngµy 06 th¸ng 08 n¨m 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2020/QĐXXST-HS ngày 04/08/2020 đối với các bị cáo: 1. Nguyễn Xuân V, sinh ngày 06/03/1987. Tên gọi khác: Không Nơi sinh: Xã Thượng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An Nơi đăng ký HKTT: Xóm 06, xã Thượng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An Chỗ ở hiện nay: Xóm 08, xã Thượng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12 Con ông: Nguyễn Xuân T, sinh năm 1963 Con bà : Nguyễn Thị L, sinh năm 1964 Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ 01 trong gia đình Vợ: Nguyễn Thị C

- 1 -

Con: 03 người; lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2016

Tiền sự : Không.

Tiền án: - Ngày 27/02/2012 bị TAND huyện Đô Lương, xử phạt 26 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 50 tháng về tội “Cố ý gây thương tích”

- Ngày 29/11/2016 bị TAND huyện Đô Lương, xử phạt 18 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản. Ngày 17/8/2017 Tòa Án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phúc thẩm, sửa án xử phạt bị cáo 30 tháng cải tạo không giam giữ.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/6/2020 cho đến nay tại Trại tạm giam công an tỉnh Nghệ An. Có mặt. 2. Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 20/12/1988. Tên gọi khác: Không Nơi sinh: Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An Nơi cư trú: Khối Tân Quang, phường Lê Mao, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12 Con ông: Nguyễn Văn H, sinh năm 1961 Con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1966 Anh chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ 01 trong gia đình Chồng: Lê Văn L, sinh năm 1977 Con: 03 người; lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2013 Tiền án, tiền sự : Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/6/2020 cho đến nay tại Trại tạm giam Công An tỉnh Nghệ An. Có mặt. -Người làm chứng: +. Anh: Nguyễn Đình V, sinh ngày 20/01/1993. Vắng mặt Nơi cư trú: Xóm 03, xã Trù Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An +. Anh: Nguyễn Hàm T, sinh ngày 27/10/1991. Vắng mặt Nơi cư trú: Xóm 07, xã Quang Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An +. Anh: Lê Văn K, sinh ngày 19/08/1997. Có mặt Nơi cư trú: Xóm 01, xã Quang Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An +. Anh: Tăng Viết S, sinh ngày 22/02/1999. Vắng mặt Nơi cư trú: Xóm 04, xã Đại Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

- 2 -

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ, ngày 10/6/2020 tại nơi ở của Nguyễn Xuân V ở xóm 08, xã Thượng Sơn, huyện Đô Lương, Nguyễn Xuân V và Nguyễn Thị Thu H đã bán cho Nguyễn Hàm T một gói ma túy với số tiền 350.000đồng, số ma túy này Nguyễn Hàm T đã sử dụng hết. Tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Xuân V, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương đã thu giữ thêm của Nguyễn Xuân V, Nguyễn Thị Thu H 0,891gam ma túy Methamphetamine.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận: Vào ngày 07/6/2020 Nguyễn Xuân V đã đi lên Thị trấn Đô lương, huyện Đô Lương và mua một gói ma túy đá của một người tên G (V không rõ danh tính) với số tiền là 1.100.000 đồng nhằm mục đích sử dụng và nếu có ai mua thì bán để kiếm lời. Sau khi về nhà ở xóm 08, xã Thượng Sơn, huyện Đô Lương, Nguyễn Xuân V đã giao số ma túy đã mua cho Nguyễn Thị Thu H, hiện đang sống chung với Nguyễn Xuân V để cất dấu. Sau khi nhận ma túy Nguyễn Xuân V đưa, để thuận tiện cho việc bán cho người khác nên Nguyễn Thị Thu H đã chia nhỏ gói ma túy ra, cho vào các túi ni lon cất giấu tại cửa sổ trong phòng ngủ của Nguyễn Xuân V để khi ai có nhu cầu mua thì bán.

Khoảng 21 giờ, ngày 10/6/2020 khi Nguyễn Xuân V, Tăng Viết S, Lê Văn K, Nguyễn Đình V đang ở trong phòng ngủ của gia đình Nguyễn Xuân V thì có Nguyễn Hàm T đi vào gặp Nguyễn Xuân V đưa cho Việt số tiền 350.000 đồng và nói “Anh có đồ không để cho em ít” Nguyễn Xuân V hiểu ý Nguyễn Hàm T muốn mua ma túy, nên cầm tiền bỏ vào túi quần và nói Nguyễn Thị Thu H là “Đưa cho thằng Tân một gói” thì H hiểu ý nên lấy một gói ma túy đưa cho Nguyễn Hàm T. Do không biết cách “Nấu” để sử dụng ma túy, nên Nguyễn Hàm T đã nhờ Nguyễn Thị Thu H bỏ gói ma túy mới mua đó vào dụng cụ đốt nóng lên; Nguyễn Hàm T rủ thêm Nguyễn Xuân V, Tăng Viết S, Lê Văn K, Nguyễn Đình V cùng sử dụng.

Đến khoảng 22 giờ ngày 10/6/2020 các đối tượng bị tổ tuần tra Công an huyện Đô Lương kiểm tra hành chính, lập biên bản sự việc về hành vi sử dụng

- 3 -

trái phép chất ma túy. Tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Xuân V, thu giữ tại rìa ngoài sát phòng ngủ của Nguyễn Xuân V 10 gói nilon bên trong có chứa các tinh thể màu trắng (nghi ma túy) và số tiền 350.000 đồng thu giữ trong túi quần của Nguyễn Xuân V.

Ngày 11/6/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương đã thành lập hội đồng mở niêm phong, cân xác định khối lượng 10 gói chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Xuân V, Nguyễn Thị Thu H có khối lượng 0,891 gam và đã sử dụng tất cả số chất tinh thể màu trắng trên để gửi đi giám định.

Tại kết luận giám định số 864/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 17/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công An tỉnh Nghệ An, kết luận: 10 gói chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Xuân V, Nguyễn Thị Thu H là ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,891 gam.

Tại bản cáo trạng số 85/CT – VKS - ĐL ngày 03/08/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An truy tố về tội bị cáo Nguyễn Xuân V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thu H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương giữ quyền công tố và luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

- Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân V từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy các túi nilon các đối tượng sử dụng để chứa ma túy còn lại sau khi lấy đi giám định. Tịch thu sung công số tiền thu lợi bất chính 350.000 đồng.

Tại phiên tòa các bị cáo nhận tội và đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- 4 -

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác, đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng 21 giờ, ngày 10/6/2020 tại nơi ở của Nguyễn Xuân V ở xóm 08, xã Thượng Sơn, Đô Lương, Nguyễn Xuân V và Nguyễn Thị Thu H đã bán cho Nguyễn Hàm T một gói ma túy với số tiền 350.000 đồng số ma túy này Nguyễn Hàm T đã sử dụng hết. Tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Xuân V, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương đã thu giữ thêm của Nguyễn Xuân V, Nguyễn Thị Thu H 0,891 gam ma túy Methamphetamine.

Hành vi mua bán bất hợp pháp chất ma túy của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Xuân V phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội lần đầu, khối lượng ma túy các bị cáo mua bán là 0,891 gam Methamphetamine nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An truy tố theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, đồng phạm giản đơn, nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, là mầm mống phát sinh nhiều loại tội phạm, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước đối với chất ma túy, làm mất trật tự trị an trên địa bàn huyện gây hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân. Cách thức

- 5 -

thực hiện hành vi ngang nhiên, coi thường pháp luật. Bản thân các bị cáo là thanh niên trưởng thành, đã có gia đình, có con nhỏ, nhận thức được sự nguy hiểm của việc gieo cái chết trắng cho người khác, nhưng vì nghiện ma túy, hám lợi bất chính, lười lao động, đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần lên một mức án nghiêm minh, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét vai trò, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo trong vụ án:

- Đối với bị cáo Nguyễn Xuân V: Là người trực tiếp mua ma túy, trực tiếp trao đổi mua bán với Nguyễn Hàm T, phân công bị cáo H cất giữ ma túy để bán khi có người hỏi mua. Vì vậy đối với bị cáo cần xử phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, tại thời điểm phạm tội bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào và có 02 tình tiết giảm nhẹ là: Trong quá trình điều tra, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố đẻ là thương binh, ông nội là cán bộ tiền khởi nghĩa trước tháng 8 năm 1945 quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, vì vậy cần xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo tốt, sớm trở về với gia đình và xã hội. Mức hình phạt từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù mà Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là có căn cứ, cần chấp nhận. Tiếp tục duy trì biện pháp tạm giam đối với bị cáo.

- Đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu H: Tham gia vụ án với vai trò đồng phạm giúp sức cho bị cáo Việt trong việc cất giữ, chia nhỏ ma túy và trực tiếp giao ma túy cho người mua, trực tiếp giúp người mua sử dụng chất ma túy. Bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật nghiêm trọng, khi thấy bị cáo Việt có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, không những không can ngăn mà bị cáo còn giúp sức tích cực cho bị cáo V thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, đối với bị cáo cũng phải xét xử nghiêm, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo thành người lương thiện, sống có ích với gia đình, xã hội. Tại phiên tòa bị cáo có nộp một giấy chứng nhận huân chương kháng chiến của bà Nguyễn Thị L và trình bày là bà ngoại của bị cáo, tuy nhiên bị cáo không có các giấy tờ, tài liệu chứng minh mối quan hệ nhân thân giữa bị cáo và bà

- 6 -

Nguyễn Thị L nên không đủ cơ sở để chấp nhận. Tại thời điểm phạm tội bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào và có 01 tình tiết giảm nhẹ là: Trong quá trình điều tra, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, vì vậy cần xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo tốt, sớm trở về với gia đình và xã hội. Mức hình phạt từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù mà Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là có căn cứ, cần chấp nhận. Tiếp tục duy trì biện pháp tạm giam đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều nghiện ma túy, công việc, thu nhập không ổn định, không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với các túi nilon các đối tượng sử dụng để chứa ma túy còn lại sau khi lấy đi giám định cần tịch thu, tiêu hủy và tịch thu sung công số tiền thu lợi bất chính 350.000 đồng.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

V× c¸c lÏ trªn,

QuyÕt ®Þnh:

Căn cứ vào điểm q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự (Đối với bị cáo Nguyễn Xuân V), khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự (Đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu H), Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Tuyªn bè bÞ c¸o Nguyễn Xuân V và Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. - Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân V 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (Ngày 10/06/2020).

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (Ngày 11/06/2020).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Xuân V, Nguyễn Thị Thu H.

3. Xử lý vật chứng:

- 7 -

- Tịch thu, tiêu hủy: Vỏ phong bì niêm phong thu giữ của Nguyễn Xuân V vào ngày 10/06/2020 và 10 túi nilon màu trắng (Vỏ), ký hiệu lần lượt là A,B,C,D,E,F,G,H,I,K chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/08/2020;

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính 350.000đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên bản giao nhận tài sản số 04/2020/BBGN-KBĐL ngày 22/06/2020 của Kho bạc nhà nước huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Xuân V, Nguyễn Thị thu H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo cã quyÒn kh¸ng c¸o trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n s¬ thÈm./. N¬i nhËn:

Cỡ chữ