vanban.org

Bản án 82/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 12/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Anh T vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổ…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
c
THÀNH PHỐ HẠ LONG
TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 82/2020/HS-ST
Ngày: 12/3/2020

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà : Bà Lê Thị Chiên

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Hương.

Ông Phạm Văn Chuy.

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên. Trong ngày 12 tháng 3 năm 2020, tại Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2020/TLST- HS ngày 17/01/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2020/QĐXXST-HS ngày 27/02/2020, đối với bị cáo: Nguyễn Anh T- Tên gọi khác: Không - Giới tính: Nam; Sinh: 28/8/1959, tại thành phố Hải phòng; Nơi cư trú: tổ 2, khu 10, phường H, thành phố Hạ Long; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 10/10; Nghề nghiệp: đã nghỉ hưu; Con ông: Nguyễn Trọng L (đã chết); Con bà: Trần Thị T; Vợ là Lục Thị N , có 02 con, lớn sinh năm 1993; nhỏ sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: Chưa; Bị cáo Nguyễn Anh T hiện đang bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt tại phiên tòa. * Người bị hại: Anh Trần Hữu Q (đã chết hồi 00h01 phút ngày 21/10/2019).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Trần Văn Q1, sinh năm 1954; Bà Vũ Thúy C, sinh năm 1952; Chị Nguyễn Thị Phương L, sinh năm 1989. Đều trú tại: khu T, phường Đ, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh; Có mặt tại phiên tòa. * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Trọng Thanh T1, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Tổ 2, khu 10, phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng NinH; Có mặt tại phiên tòa. * Người làm chứng: 1. Anh Hà Văn M, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Tổ 70, khu 5, phường B, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt tại phiên tòa. 2. Chị Trần Hải Xuân, sinh năm 1965; Nơi cư trú: Tổ 70, khu 5, phường B, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt tại phiên tòa.

3. Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Tổ 19, khu 2, phường K, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt tại phiên tòa. 4. Anh Lê Thế Phương, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Tổ 4, khu 1, phường K, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt tại phiên tòa. 5. Chị Trần Thị Hoa, sinh 1970; Nơi cư trú: Tổ 1, khu 1, phường K, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Anh T có giấy phép lái xe hạng B2. Sáng ngày 19/10/2019, T điều khiển xe ô tô BKS 14A- xyz, hướng từ phường Giếng Đáy về phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Đến khoảng 08h giờ sáng cùng ngày, T điều khiển xe ô tô đến đoạn đường An Tiêm thuộc tổ 1, khu 1, phường K, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (nơi có biển báo chỗ ngoặt phải nguy hiểm), vào cua phải đã không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên xe ô tô do T điều khiển đi lấn phần đường, đâm vào xe mô tô BKS 14M1- abc do anh Trần Hữu Q, sinh năm 1987, trú tại khu T, phường Đ, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh điều khiển đi ngược chiều.

Hậu quả: Anh Trần Hữu Q bị đa chấn thương, đến 00h01 phút ngày 21/10/2019 thì anh Q tử vong, xe ô tô và xe mô tô bị hư hỏng. * Người đại diện hợp pháp bị hại: Ông Q1, bà C, chị L xác nhận Nguyễn Anh T đã tự nguyện bồi thường cho gia đình nạn nhân (anh Trần Hữu Q) số tiền 250.000.000 đồng. Nay những người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm và vần giữ quan điểm như trong đơn xin cho bị cáo. * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Trọng Thanh T1 có lời khai xác nhận xe ô tô BKS 14A-xyz là của anh, sáng ngày 19/10/2019, Nguyễn Anh T là bố của anh có lấy xe đi và gây tai nạn thì anh không được biết sự việc. Nay anh đã được nhận lại xe ô tô và anh không yêu cầu bồi thường gì…(BL từ 120;121;198;199). * Người làm chứng: Anh Lê Thế P, chị Trần Thị H, có lời khai xác nhận nhìn thấy sự việc xảy ra tai nạn sau khi nghe thấy tiếng “Rầm to” vào khoảng 08 giờ ngày 19/10/2020, tại đoạn đường An Tiêm thuộc tổ 1, khu 1, phường K, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh ...(BL từ 128 đến 133); Anh Hà Văn M, chị Trần Hải X xác nhận về nguồn gốc chiếc xe ô tô BKS 14A-05963, anh Nguyễn Văn Q xác nhận về nguồn gốc chiếc xe mô tô BKS 14M1-abc ...(BL từ 122 đến 125).

Biên bản khám nghiệm hiện trường được lập hồi 09 ngày 19/10/2019 thể hiện: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đường hai chiều, mặt đường rải nhựa bê tông, chiều rộng toàn bộ mặt đường là 10,8m; giữa đường có vạch sơn màu vàng đứt quãng chia hai phần đường xe đi. Phần đường hướng Giếng Đáy đi H rộng 5.5m, có vạch sơn kẻ liền màu trắng chia 02 làn đường, trong đó làn đường bên phải rộng 1,8m. Phía trước nơi xảy ra tai nạn đi về phía Giếng Đáy đường cong từ phải sang trái theo hướng H đi Bãi Cháy, phía trước nơi xảy ra tai nạn về phía đi Giếng Đáy trên lề đường bên phải theo hướng Giếng Đáy đi H có biển báo “Chỗ ngoặt nguy hiểm”, phía trước bên phải theo hướng H đi Giếng Đáy có biển báo “bắt đầu đông dân cư”. Mặt đường có vết tỳ miết, xước dính chất màu đen (1) dài 21,5m điểm này trùng với vị trí lốp bánh trước bên phải xe ô tô BKS 14A- xyz. Cách điểm đầu vết (1) về phía H chếch sang bên phải 01 m là điểm đầu đám mảnh vỡ (2) về phía Giếng Đáy trên diện (14 x5)cm, từ điểm đầu (2) đo đến mép đường là 5,6m. Điểm đầu (1) về H 1,7m có đám dầu bắn tóe (3) trên diện (5x2,3)m. Từ điểm đầu (3) đến mép đường là 5,6m điểm cuối (3) trùng với vị trí xe mô tô BKS 14M1- abc nằm đổ trên phải đường; cách điểm đầu (3) 3m về phía H chếch dang trái là điểm đầu vết xước không liên tục (4) dài 3m hướng từ Giếng Đáy và H và chếch sang trái. Từ điểm đầu (4) đo đến mép đường là 7,5,m. Điểm cuối (4) trùng với xe mô tô BKS 14M1- abc nằm đổ trên mặt đường (bút lục 16, 17).

Biên bản khám xe mô tô BKS 14M1- abc: Toàn bộ phía bên trái phía trước bị hư hỏng: chắn bùn trước bánh trước bên trái bị tỳ xước nứt vỡ nhựa kích thước 28x 20cm hướng từ trước về sau, rải rác dính chất màu đen, phía bên trái ốp nhựa đầu xe bị tỳ xước, dập vỡ nhựa kích thước 40 x 25cm hướng từ trước về sau, điểm thấp nhất cách mặt đất là 91,5 cm, bật chốt liên kết; mặt trước tay phanh bên trái ghi đông bị tỳ xước kim loại, rải rác dính chất màu ghi, cánh yếm bên trái bị vỡ rời bật khỏi vị trí; đèn xi nhan trước bên trái bị tỳ xước nứt vỡ hướng từ trước về sau, phía bên trái mặt nạ bị tỳ xước nứt vỡ nhựa rải rác dính chất màu đen; mặt trước lốc máy bên trái bị tỳ xước vỡ kim loại hướng từ trước về sau, lốc máy bị chảy dầu; cần bật giá để chân trước bên trái bị cong hướng từ trước về sau, từ trên xuống dưới…đầu núm tay phanh bên phải bị xước kim loại dính chất màu trắng, mặt sau đầu nắm tay cầm bên phải ghi đông bị mài xước kim loại dính chất bột màu trắng kích thước 2,5 x 1,3cm hướng từ sau về trước; giá để chân bên phải bị mài xước kim loại dính chất bột màu trắng hướng từ sau về trước, mặt ngoài ốp ống xả bị mài xước hướng từ trước về sau.

Biên bản khám nghiệm xe ô tô BKS 14A- xyz: Cụm đèn chiếu sáng trước bị vỡ hỏng, mép phía trước bên trái nắp ca bô bị tỳ xước bẹp lõm kim loại kích thước (23 x37) cm, hướng từ trước về sau, thấp nhất cách mặt đất 97cm. Phía bên trái ba đờ sốc trước bị tỳ xước bẹp lõm nứt vỡ nhựa kích thước (80x 60)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 20 cm hướng từ trước về sau, từ trái sang phải bật chốt liên kết phía bên trái ba đờ sốc. Đèn gầm, phía bên trái ba đờ sốc trước bị bật rời khỏi vị trí chỉ còn liên kết với xe bằng dây điện, tai xe bên trái bị tỳ xước bẹp lõm rách kim loại hướng từ trước về sau kích thước (102 x02) cm thấp nhất cách mặt đất 69cm. má bên ngoài lốp bánh trước bên trái và cạnh la răng phía trong liền kề có vết tỳ xước rách cao su, tỳ xước kim loại rải rác dính chất màu đen, hồng, chất màu vàng ghi trên diện 2/3 chu vi hướng cùng chiều kim đồng đồ chếch từ ngoài vào tâm gây rách thủng lốp hết hơi. Gương chiếu hậu bên trái bị gãy ở vị trí chân gương chỉ còn liên kết bằng dây điện; Chắn bùn phía trước bên trái bị bật khỏi vị trí ( bút lục 18,19).

Biên bản khám nghiệm tử thi Trần Hữu Q: Bầm tím tụ máu hai hốc mắt, vết thương rách da nằm dọc vùng trán phải dài 6cm đã được khâu, sờ nắn thấy lún, lõm vỡ xương trái phải với kích thước 3cm x3cm. Ống tai phải còn đọng máu khô. Gãy xương hàm trên bên phải, sưng nề bầm tím tụ máu vùng thái dương đỉnh phải Gãy kín ½ giữa hai xương cẳng tay trái…ngực, bụng, lưng mông, tứ chi có nhiều vết xước, bầm tím (bút lục 22). Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số: 203 ngày 21/10/2019, của Trung tâm pháp y Sở y tế Quảng Ninh, kết luận nguyên nhân chết của anh Trần Hữu Q là do chấn thương sọ não, vỡ xương vòm sọ, tụ máu dưới màng cứng, chết não + đã chấn thương phối hợp nền sọ. (Bút lục số: 50, 51).

Bản kết luận định giá tài sản số: 230 ngày 14/11/2019, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, thành phố Hạ Long kết luận: Chi phí khôi phục tình trạng ban đầu của xe mô tô BKS 14M1- abc là 4.976.000 đồng (Bốn triệu chín trăm bảy mươi sáu nghìn đồng); Chi phí khôi phục tình trạng ban đầu của xe ô tô BKS 14A- xyz là 24.664.000đ (hai mươi tư triệu sáu trăm sáu mươi tư nghìn đồng). (Bút lục số: 58)

Biên bản trích xuất hình ảnh camera xác định: đường vòng cua phải, theo chiều xe ô tô BKS 14A- xyz; xe ô tô đi chiếm phần đường xe mô tô BKS 14M1-abc gây tai nạn.

Tại bản cáo trạng số: 24/KSĐT ngày 14/01/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long để xét xử bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Nguyễn Anh T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo, bị cáo có Bố và anh ruột là người có công với nước, nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự; căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 260; Điều 65 ; khoản 2, Điều 47 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Anh T từ 15 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Anh T khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với lời khai của người liên quan, người làm chứng; biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông; Bản kết luận giám định pháp y về tử thi; và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 08 giờ, ngày 19/10/2019, tại đoạn đường An Tiêm thuộc tổ 1, khu 1, phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, nơi có biển báo chỗ ngoặt phải nguy hiểm, Nguyễn Anh T (có giấy phép lái xe hạng B hợp lệ) điều khiển xe ô tô BKS 14A- xyz vào cua không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, nên xe ô tô do T điều khiển đã đi lấn phần đường, đâm vào xe mô tô BKS 14M1- abc do anh Trần Hữu Q đi ngược chiều, gây tai nạn làm anh Trần Hữu Q bị tử vong sau cấp cứu, xe mô tô 14M1- abc bị hư hỏng thiệt hại 4.976.000 đồng; Xe ô tô BKS 14A- xyz bị hư hỏng, thiệt hại 24.664.000 đồng.

Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn là do Nguyễn Anh T điều khiển xe ô tô đến đoạn đường có biển báo chỗ ngoặt phải nguy hiểm, đã không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, dẫn đến xe ô tô do T điều khiển đi lấn đường, đâm vào xe mô tô do anh Trần Hữu Q điều khiển đi ngược chiều. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Anh T đã vi phạm khoản 1, Điều 9 của Luật giao thông đường bộ; khoản 1, khoản 3, Điều 5 của Thông tư số 31/2019/TTBGTVT ngày 29/08/2019 của Bộ giao thông vận tải.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Anh T đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 260 của Bộ luật hình sự, như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng qui định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào những quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ. Bị cáo đã vi phạm các qui định về an toàn giao thông đường bộ nhằm đảm bảo cho hoạt động giao thông đường bộ được tiến hành bình thường, bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản của công dân. Cần xử lý bị cáo để cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự .

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; người đại diện hợp pháp của bị hại xin cho bị cáo; bị cáo có Bố và anh ruột là người có công với nước. Nên bị cáo được hưởng tình tiết theo điểm b,s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xét bị cáo có các điều kiện: Nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có 03 tình tiết giảm nhẹ, có khả năng tự cải tạo bản thân làm công dân tốt.

Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội, để bị cáo thấy được tính khoan hồng của pháp luật mà tự ý thức cải tạo cho tốt để trở thành công dân có ích cho xã hội. [6] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo. [7] Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hạ Long đã trả lại cho gia đình bị hại 01 xe mô tô BKS 14M1- abc; ngày 14/01/2020 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã trả lại xe ô tô BKS 14A- xyz cho chủ sở hữu. Nên không đề cập.

- 01 Giấy phép lái xe số: 220008000563 mang tên Nguyễn Anh T. Xét trả lại cho bị cáo Nguyễn Anh T. [8] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại xác nhận đã nhận tiền bồi thường và không yêu cầu bồi thường gì thêm. [9] Về án phí: Bị cáo chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật. [10] Quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án này thì Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH : Tuyên bố : Bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự ; điểm a, khoản 1, Điều 260; điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5, Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Anh T 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (Ba sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định của pháp luật về thi hành án hình sự. Căn cứ vào khoản 2, Điều 47 của Bộ luật hình sự . Trả lại cho bị cáo Nguyễn Anh T 01 Giấy phép lái xe số: 220008000563 mang tên Nguyễn Anh T. Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Buộc bị cáo chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

. Án xử công khai, có mặt bị cáo, anh T1, người đại diện hợp pháp của bị hại. Báo quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ