- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ý N và bị đơn ông Nguyễn Thá…"
- Tòa quyết gì? Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; các iều 144, 147, 273 Bộ luật Tố tụng
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 82/2020/HNGĐ-ST Ngày: 16 / 6 / 2020 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Thái Chí Bình.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Lâm Sơn;
2. Bà Hoàng Thị Thiện Lai.
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Lắm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham
gia phiên tòa: Ông Tôn Văn Xuyên – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới
xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 134/2020/TLST-
HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2020 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly
hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
132/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2020; Quyết định hoãn phiên
tòa số 144/2020/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2020 và Thông báo về việc
thay đổi thời gian mở phiên tòa số 17/TB-TA ngày 21 tháng 5 năm 2020, giữa
các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ý N, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp L, xã L,
huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Thái H, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện
C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ
án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ý N trình bày, sau thời gian quen biết và tìm hiểu, bà N và ông H chung sống với nhau vào năm 2016, không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong thời gian chung sống, bà N, ông H có sinh 01 con chung tên Nguyễn Thái H1, sinh ngày 13/3/2017. Hiện tại, con chung đang được bà N chăm sóc, nuôi dưỡng; không có tài sản chung, nợ chung.
Cách nay khoảng 01 năm, ông H, bà N thường xuyên cãi vã do bất đồng
quan điểm sống.
Do tình cảm không còn nên bà N yêu cầu được ly hôn với ông H; yêu cầu
được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi dạy con chung; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, nợ chung.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu
cầu khởi kiện: Trích lục khai sinh của Nguyễn Thái H1, sinh ngày 13/3/2017 (bản sao); bản tự khai Nguyễn Thị Ý N ngày 10/02/2020.
- Bị đơn ông Nguyễn Thái H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn
vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa:
- Bà N trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị
xét xử và xác định không có tài liệu, chứng cứ khác giao nộp cho Tòa án chứng minh cho ý kiến, yêu cầu của mình.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn
đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, bà N và ông H chung
sống với nhau từ năm 2016, không đăng ký kết hôn theo quy định nên không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vì vậy, đề nghị không công nhận bà N, ông H là vợ chồng theo Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về con chung, đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà N, giao cháu H1 cho bà
N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng; ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung, đề nghị không đề cập giải quyết.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 14, 53, 81, 82, 83,
84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Ý N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thái H.
Đồng thời, ông H cư trú trên địa bàn huyện C. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân
và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới
theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1
Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Nguyễn Thái H đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ
hai nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt
ông H theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ý N khai, sau thời gian quen biết và
tìm hiểu, bà N và ông H chung sống với nhau vào năm 2016, không đăng ký kết
hôn theo quy định của pháp luật.
Xét, bà N và ông H chung sống với nhau từ năm 2016 nhưng không đăng
ký kết hôn theo quy định pháp luật. Vì vậy, không công nhận bà N và ông H là
vợ chồng theo khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Về con chung: Bà N xác định trong thời gian chung sống, bà N và
ông H có sinh 01 con chung tên Nguyễn Thái H1, sinh ngày 13/3/2017.
Xét thấy, cháu H1 đang được bà N chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển ổn
định. Ông H không có ý kiến đối với quyền nuôi dưỡng con chung. Do đó, để
đảm bảo ổn định cuộc sống cho cháu H1, giúp cháu H1 phát triển tốt về thể chất,
tinh thần, Hội đồng xét xử giao cháu H1 cho bà N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng
theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, do bà N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi
cháu H1 nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà N xác định không yêu cầu Tòa án
xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà N phải chịu án phí hôn nhân sơ
thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông H không phải chịu án phí
hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 iều 14, khoản 2 iều 53, các iều 58, 81, 82, 83, 84
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; các iều 144, 147, 273 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 iều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị Ý N và ông Nguyễn
Thái H là vợ chồng.
2. Về con chung:
Bà Nguyễn Thị Ý N được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn
Thái H1, sinh ngày 13/3/2017. Ông Nguyễn Thái H không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.
Bà Nguyễn Thị Ý N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được
cản trở ông Nguyễn Thái H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có
thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Ý N phải chịu án phí hôn nhân sơ
thẩm 300 000 ba trăm nghìn đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300 000 ba trăm nghìn đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số TU/2017/0008006 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang cấp ngày 10 tháng 02 năm 2020; bà Nguyễn Thị Ý N đã nộp đủ án phí.
Ông Nguyễn Thái H không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Nguyễn Thị Ý N có quyền
kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của ông Nguyễn Thái H được tính là 15 ngày kể
từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại iều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các iều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại iều 30 Luật thi hành án dân sự
| Nơi nhận: - VKSND huyện Chợ Mới (2); - TAND tỉnh An Giang (1); - Chi cục THADS huyện C (1); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ (1); - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Chí Bình |