vanban.org

Bản án 82/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H-nđ và anh Nguyễn Văn N-bđ.

Về con chung: Anh, chị có 02 con chung đã thành niên nên không xét. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chj H xin ly hôn anh N"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H-nđ và anh Nguyễn Văn N-bđ.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 82/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 21-10-2020
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa

Ông Phạm Ngọc Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Ý - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 10 năm 2020, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 62/2020/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2020 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2020, giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H-nđ, sinh năm 1978. HKTT: ấp A, xã ĐH, huyện An Minh, Kiên Giang. Địa chỉ cư trú: 1, thị trấn UM, huyện U Minh, Cà Mau; (xin vắng mặt).

2- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N-bđ, sinh năm 1977. Địa chỉ: ấp A, xã ĐH, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang; (vắng mặt lần thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 26-11-2019 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H-nđ trình bày và yêu cầu như sau:

Chị và anh Nguyễn Văn N-bđ sống chung với nhau vào năm 1998. Sau đó đăng ký kết hôn và được UBND xã ĐH, huyện An Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 07-4-2009. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn. Mâu thuẫn chủ yếu là do bất đồng về quan hệ gia đình, kinh tế và cách sống; anh N-bđ không quan tâm chia sẻ với vợ con. Đến đầu năm 2019 chị H-nđ ly thân anh N-bđ cho đến nay.

Về con chung: anh chị có 02 con chung tên Nguyễn Thị Huyền T-lq1, sinh ngày 16-6-2000 và Nguyễn Minh L-lq2, sinh ngày 22-11-2001, hiện hai cháu sống chung với chị H-nđ.

Chị H-nđ khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh N-bđ; về con chị H-nđ yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh N-bđ cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn N-bđ không có lời trình bày.

Tại biên bản xác minh ngày 08-5-2020, chính quyền địa phương không nắm được nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh N-bđ với chị H-nđ.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án thực hiện đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; đối với các đương sự thì từ khi thụ lý vụ án đến nay phía nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình; phía bị đơn vắng mặt nên đã không thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định, việc xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định. Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX cho chị H-nđ ly hôn với anh N-bđ; về con chung đã thành niên; về tài sản và nợ không yêu cầu nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh N-bđ đều vắng mặt, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và phiên tòa. Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng anh N-bđ vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh N-bđ. Nguyên đơn chị H-nđ có đơn xin xét xử vắng mặt nên HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị H-nđ.

[2] Về quan hệ hôn nhân, chị H-nđ và anh N-bđ chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện vào năm 1998. Sau đó đăng ký kết hôn và được UBND xã ĐH, huyện An Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 07-4-2009 nên là quan

HNST số: 82/2020-2

hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Chị H-nđ và anh N-bđ sống chung một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh, chị có nhiều bất đồng về quan điểm, không hòa hợp về cách sống. Khi Tòa án thông báo về yêu cầu ly hôn của chị H-nđ thì anh N-bđ không có ý kiến hay động tác gì để hàn gắn mà bỏ mặc; khi Tòa án tổ chức hòa giải đoàn tụ thì anh N-bđ vắng mặt không tham dự. Việc anh N-bđ không có ý kiến khi nguyên đơn xin ly hôn, không tham dự phiên hòa giải, phiên tòa vừa vi phạm nghĩa vụ bị đơn vừa đánh mất cơ hội hòa giải đoàn tụ tại Tòa án. Từ đó cho thấy giữa anh N-bđ và chị H-nđ mục đích hôn nhân đã không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, HĐXX căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị H-nđ được ly hôn với anh N-bđ.

[4] Về con chung, anh chị có 02 con chung tên Nguyễn Thị Huyền T-lq1, sinh ngày 16-6-2000 và Nguyễn Minh L-lq2, sinh ngày 22-11-2001 hiện sống chung với chị H-nđ. Thấy rằng hai cháu đã thành niên, đủ khả năng lao động nên không xem xét về việc giao con chung cho ai trực tiếp nuôi dưỡng.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: chị H-nđ không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

[6] Về án phí, nguyên đơn chị H-nđ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000đ theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H-nđ và anh Nguyễn Văn N-bđ.

2. Về con chung: Anh, chị có 02 con chung đã thành niên nên không xét.

3. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét.

4. Về án phí, chị H-nđ chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn là 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số 0007717 ngày 24-02-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, chị H-nđ đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm.

HNST số: 82/2020-3

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự đều vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ