- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Trần Văn Đ 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/03/2019; tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số:82 /2019/HSST Ngày: 18/06/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Nghiêm
Các Hội thẩm:
1. Ông Nguyễn Đức Thành
2. Ông Trần Văn Huy
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Phương Minh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội: Ông Lê Đức Phương – Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 18 tháng 06 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 05 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử ngày 28/05/2019 đối với bị cáo:
Trần Văn Đ, sinh năm 1993; HKTT: Xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông: Trần Văn L (Đã chết); con bà: Bùi Thị P; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 04/03/2019-Có mặt
NHẬN THẤY
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16giờ ngày 04/03/2019, Trần Văn Đ đi xe ôm từ chỗ làm ở phường M, quận H, Hà Nội đến khu vực bến xe G, quận H, Hà Nội tìm mua ma túy đá về sử dụng. Tại đây, Đ gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Đ cất giấu gói ma túy đá trong người và đi lang thang. Đến khoảng 20 giờ 30’ cùng ngày, Đ mượn điện thoại của một người không quen biết gọi điện thoại cho anh Phạm Văn T (Sinh năm: 1991; HKTT: xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định) là bạn cùng quê và làm xây dựng cùng nhờ đón Đ ở bến xe G chở về chỗ làm. Sau đó, T điều khiển xe mô tô Yamaha màu trắng đen BKS90B1-175.92 đi từ khu vực T, quận H, Hà Nội đến bến xe G đón Đ đi về chỗ làm ở phường M, quận, Hà Nội.
Hồi 23 giờ 35’ ngày 04/03/2019, tổ công tác đội nghi lễ PK20 - Công an thành phố Hà Nội làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực đường ven sông T thuộc xã T, huyện T, Hà Nội phát hiện Phạm Văn T điều khiển xe mô tô Yamaha màu trắng đen BKS90B1-175.92 đèo Trần Văn Đ ngồi sau có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành dừng xe để kiểm tra hành chính. Khi tổ công tác kiểm tra, Đ thả từ lòng bàn tay phải 01 túi nilong màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng xuống đất cách vị trí Đ đứng khoảng 2 mét thì bị tổ công tác phát hiện và yêu cầu Đ nhặt túi nilong lên giao nộp.Tại chỗ, Đ khai nhận túi nilong chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá Đ mua để sử dụng nên tổ công tác đã phối hợp với Đồn công an C – Công an huyện T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật. Ngoài ra còn tạm giữ của T 01 xe mô tô Yamaha màu trắng đen BKS90B1– 175.92, số máy 5C64-701650, số khungCY701652 và 01 chiếc điện thoại di động Samsung màu trắng và đưa Đ, T về trụ sở để làm việc.
Tại b ản Kết luận giám định số 1520B/KLGĐ-PC09 ngày 14/03/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi ni lông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,345 gam.
Cơ quan giám định đã sử dụng để giám định hết 0,020 gam Methamphetamine, hoàn trả cho Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T 0,325 gam Methamphetamine.
B¶n c¸o tr¹ngsè 91/CT- VKS ngµy 24/05/2019, của Viện kiểm sát nhân dân huyÖn Thanh Tr× truy tè Trần Văn Đ vÒ téi "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c kho¶n 1 §iÒu 249 Bộ luật hình sự;
Tại phiên toà: Bị cáo thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật, nay bị cáo nhận thức hành vi của mình thực hiện là sai trái, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình,đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa, tái hòa nhận cộng đồng làm người có ích cho gia đình và cho xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đã xem xét toàn diện các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thông qua việc xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa đã luận tội và kết luận: Hồi 23 giờ 35’ ngày 04/03/2019, tại khu vực đường ven sông T xã T, huyện T, Hà Nội, bị cáo Đ có hành vi tàng trữ trái phép 0,345 gam Methamphetamine để sử dụng là có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đ mức án từ 15 tháng đến21 tháng tù.Vật chứng, tịch thu tiêu hủy 0,325gam Methamphetamine. Bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm; không phạt bổ sung đối với bị cáo, vì bị cáo là con nghiện không có việc làm ổn định. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Công an huyện Thanh trì, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Đến thời điểm mở phiên tòa, không có người tham gia tố tụng nào có ý kiến và khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Hội đồng xét xử nhận định vụ án như sau [1]:
Hồi 23 giờ 35’ ngày 04/03/2019, tại khu vực đường ven sông T xã T, huyện T, thành phố Hà Nội, bị cáo Đ có hành vi tàng trữ 0,345 gamma túy Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng là có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy, cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo. Tuy nhiên, khi xem xét đến lượng hình, Hội đồng xét xử đánh giá toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi người phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của vụ án, thấy: [2]
Tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội. Vì, ma túy là chất gây nguy hại cho con người và cho xã hội, nó làm tha hóa đạo đức, lối sống, làm mất lý trí con người, làm tan vỡ nhiều hạnh phúc gia đình;đồng thời ma túy còn là mần mống cho các loại tội phạm khác, như tội trộm cắp, tội cướp, cướp giật... Do vậy, nhà nước thống nhất quản lý và có chính sách tuyên truyền rộng khắp trên mọi thông tin đại chúng để mọi người phòng tránh; nhưng bị cáo đã bất chấp tác hại của ma túy đối với con người và xã hội. Trong khi, bị cáo có đầy đủ năng lực nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là bất hợp pháp và vi phạm pháp luật nghiêm trọng; đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước được luật hình sự bảo vệ [3].
Nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng không chịu tu dưỡng bản thân để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội mà đi vào con đường phạm tội. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình để các cơ quan tiến hành tố tụng nhanh kết thúc vụ án;đây được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo [4].
Đối với nam thanh niên bán ma túy cho bị cáo, bị cáo khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra - Công an huyện Thanh Trì không có căn cứ để xử lý[5].
Đối với Phạm Văn T không biết việc Đ mua và tàng trữ trái phép ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Trì không xử lý đối với T.
Đối với chiếc xe mô tô Yamaha màu trắng đen BKS90B1-175.92, số máy 5C64-701650, số khungCY701652 và 01 chiếc điện thoại di động Samsunglà tài sản của Phạm Văn T,Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Thanh Trì đã trao trả chiếc xe máy và chiếc điện thoại trên cho anh T.
Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy0,345 gam gam Methamphetamine Cơ quan giám định đã sử dụng để giám định hết 0,020 gam Methamphetamine, hiện còn 0,325 gam Methamphetamine cho tiêu hủy.[6].
Xét bị cáo không có việc làm ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật; bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm [7].
Từ căn cứ trên, Hội đồng xét xử:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng điểm ckhoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Trần Văn Đ 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/03/2019; tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
3.Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2Điều 136, Điều 331, Điều 332, Điều 333 và Điều 336 Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án
Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,325 gam Methamphetamine.Vật chứng hiện ở Chi cục thi hành án huyện Thanh Trì, theo biên bản giao ngày 07/06/2019.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm;
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án,
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận - TANDTP Hà Nội; - VKSND huyện Thanh Trì; - Trại tạm giam CATPHN; - Chị cục THA huyện Thanh Trì; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; | (đã ký) §ç V¨n Nghiªm |