vanban.org

Bản án 82/2019/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Điện Biên Tuyên án 08/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự;

Điểm a, điểm c khoản 2, điểm a, điểm b khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Thanh H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2019/HS-ST
Ngày: 08-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hòa

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Vũ.

Bà Nguyễn Thị Khuyên.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình H Nam, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 82/2019/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2019/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Chu Thanh H, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1993, tại tỉnh Điện Biên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú trước khi bị bắt: Tổ dân phố 9, phường N, thành phố P, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Lái xe taxi; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Văn L (sinh năm 1964) và bà Đỗ Thị T (sinh năm 1970); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị kết án và chưa bị xử lý hành chính; bị bắt tạm giữ ngày 08/7/2019, tạm giam từ ngày 17/7/2019, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo do Đoàn luật sư tỉnh Điện Biên cử: Ông Nguyễn Trần D - Luật sư Văn phòng Luật sư Trần Dễ, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Tống Ngọc Tuấn A, sinh năm: 1988, vắng mặt. Nơi cư trú: Đội 5C, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.

2. Công ty TNHH L Điện Biên Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Văn Th – Sinh năm 1965.

Người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Trung V – Sinh năm 1959 (theo Văn bản ủy quyền lập ngày 16/8/2019 giữa công Đặng Văn Th – Giám đốc Công ty TNHH L Điện Biên và ông Nguyễn Trung V – Cán bộ công ty), vắng mặt.

Địa chỉ của Công ty TNHH L Điện Biên và của ông Nguyễn Trung V đều tại: Số nhà 45, tổ 10, phường N, thành phố P, tỉnh Điện Biên.

3. Bà Chu Thị Th – Sinh năm 1988; Nơi cư trú: Đội 18, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, có mặt.

4. Ông Lê Hồng M – Sinh năm 1986; Nơi cư trú: Đội 18, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Thế M, sinh năm: 1958; Nơi cư trú: Tổ dân phố 15, phường M, thành phố P, tỉnh Điện Biên, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 5/2019 bị cáo Chu Thanh H quen Đoàn Hồng Th qua việc Th thuê xe ô tô của bị cáo H. Cuối tháng 6/2019 bị cáo H đến phòng trọ của Th ở Phòng số 101, Nhà khách Điện ảnh chơi; tại đây Th nói với bị cáo “Th có ma túy đang giấu trong phòng nhưng ở đây không an toàn sợ bị kiểm tra nên nhờ bị cáo H cầm về cất giấu và bán hộ, tiền lãi thu được Th sẽ chia cho bị cáo một ít”. Ngay sau đó, Đoàn Hồng Th đưa cho bị cáo H 01 lọ nhựa màu trắng bên ngoài quấn băng dính màu đen, bên trong đựng 22 túi ma túy, trong đó có: 19 túi Ketamine; 02 túi có 76 viên MDMA; 01 túi có 13 viên Ketamine + Tramadol; Th nói với bị cáo bán Ketamine là 1.500.000đồng/01 túi; còn viên MDMA và Ketamine + Tramadol bán với giá 500.000đồng/01 viên. Bị cáo cầm lọ đựng ma túy về nhà cất giấu trong tủ quần áo tại phòng ngủ của bị cáo ở tầng hai và không nói cho ai biết. Ngày 04/7/2019 bị cáo H đến phòng trọ của Th, Th tiếp tục đưa cho bị cáo 01 túi nilon màu xanh bên trong có khoảng 200 viên hồng phiến; Th nói với bị cáo “nếu bán cho khách quen thì giá 50.000đồng/01 viên, còn bán cho khách lạ thì 60.000đồng/01 viên”; bị cáo mang túi ma túy về nhà cất giấu trong lỗ thủng đệm giường ngủ trong phòng của bị cáo. Từ ngày 04/7/2019 đến ngày 06/7/2019 bị cáo H và Th cùng nhau sử dụng hết khoảng 50 viên hồng phiến bằng hình thức hút qua ống điếu tự tạo ở phòng trọ của Th. Ngày 06/07/2019 bị cáo bán cho đối tượng Tống Ngọc Tuấn A 01 viên hồng phiến với giá 60.000đồng, số tiền này bị cáo H đã đưa cho Th. Tối ngày 07/7/2019, bị cáo lấy 70 viên hồng phiến cất giấu trong xe ô tô biển kiểm soát 27A-01554 nhằm mục đích ai mua thì bán. Khoảng 00 giờ ngày 08/7/2019 Th gọi điện cho bị cáo bảo mang 10 viên hồng phiến bán cho bạn của Th ở nhà nghỉ Hoàng Anh ở tổ dân phố 15, phường M, thành phố P, bị cáo điều khiển xe ô tô đến khu vực đường trước cửa nhà nghỉ Hoàng Anh dừng xe và lấy 10 viên hồng phiến cho vào túi nilon màu trắng cầm trong lòng bàn tay phải, bị cáo lấy tiếp 03 viên cất vào túi quần đùi bên phải đang mặc, còn 07 viên bị cáo cất vào hộp để điện thoại; 50 viên hồng phiến còn lại bị cáo cất giấu vào hộp để tay trong xe. Bị cáo mở cửa xuống khỏi xe ô tô thì bị lực lượng công an bắt giữ và thu giữ toàn bộ số hồng phiến trên người bị cáo và trong xe. Vào lúc 09 giờ ngày 08/7/2019 cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Điện Biên Phủ tiến hành khám xét nơi ở của bị cáo và thu giữ toàn bộ ma túy trong lọ nhựa bị cáo cất giấu trong tủ và số ma túy cất giấu trong lỗ thủng đệm giường ngủ của bị cáo. Vào 09 giờ 10 phút ngày 08/7/2019 khi khám xét Phòng 101 Nhà khách Điện ảnh công an thu giữ “01 ống điếu tự chế bằng lọ thủy tinh có gắn đoạn ống màu xanh cao khoảng 30cm, phát hiện dưới gầm giường bằng sắt”.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng lấy mẫu vật gửi giám định và niêm phong lại vật chứng do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P lập ngày 08/7/2019 thể hiện: 10 viên nén màu hồng thu trong lòng bàn tay phải của Chu Thanh H có tổng khối lượng 0,98gam ký hiệu là M1; 03 viên nén màu hồng thu trong túi quần đùi bên phải của Chu Thanh H có tổng khối lượng là 0,29gam ký hiệu là M2; 30 viên nén màu hồng thu trong hộp để tay của xe ô tô BKS 27A-01554 do Chu Thanh H điều khiển có tổng khối lượng là 2,92gam ký hiệu M3; 20 viên nén màu hồng thu trong hộp để tay của xe ô tô BKS 27A-01554 do Chu Thanh H điều khiển có tổng khối lượng là 1,95gam ký hiệu M4; 07 viên nén màu hồng thu giữ trong hộp để điện thoại của xe ô tô BKS 27A-01554 do Chu Thanh H điều khiển có tổng khối lượng là 0,7gam ký hiệu M5; 77 viên nén màu hồng và 02 viên nén màu xanh thu giữ trong lỗ thủng đệm giường ngủ tại nhà của Chu Thanh H có tổng khối lượng là 7,64gam ký hiệu M6; các hạt tinh thể dạng đá màu trắng có trong 19 túi nilon đựng trong lọ nhựa thu trong tủ tại nhà Chu Thanh H có tổng khối lượng là 22,54gam ký hiệu M7; 43 viên màu xanh đựng trong lọ nhựa thu trong tủ tại nhà Chu Thanh H có tổng khối lượng là 15,64gam ký hiệu M8; 33 viên nén màu tím đựng trong lọ nhựa thu trong tủ tại nhà Chu Thanh H có tổng khối lượng là 15,15gam ký hiệu M9; 13 viên nén màu nâu đựng trong lọ nhựa thu trong tủ tại nhà Chu Thanh H có tổng khối lượng là 6,93gam ký hiệu M10. Tổng khối lượng các viên nén màu hồng, màu xanh là 14,48gam; các hạt tinh thể đá màu trắng là 22,54gam; các viên nén màu xanh, màu tím, màu nâu là 37,72gam.

Bản kết luận giám định số: 769/GĐ-PC09 ngày 16/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: 06 (sáu) mẫu vật ký hiệu từ M1 đến M6 gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng vật chứng thu giữ của Chu Thanh H là 14,48gam Methamphetamine; 01 mẫu vật ký hiệu M7 gửi giám định là ma túy loại Ketamine, khối lượng thu giữ của Chu Thanh H là 22,54gam Ketamine; 02 mẫu vật ký hiệu M8, M9 gửi giám định là ma túy loại MDMA, khối lượng thu giữ của Chu Thanh H là 30,79gam MDMA; mẫu vật ký hiệu M10 gửi giám định là ma túy loại Ketamine và Tramadol, khối lượng thu giữ của Chu Thanh H là 6,93gam Ketamine và Tramadol.

Cáo trạng số: 66/CT-VKS-P1 ngày 15/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Chu Thanh H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Chu Thanh H về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Chu Thanh H từ 17 năm đến 18 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các vật sau: 14,3gam Methamphetamine + 22,51gam Ketamine + 30,75gam MDMA + 6,9gam Ketamine và Tramadol đã niêm phong (vật chứng còn lại sau khi đã trích mẫu gửi giám định thu giữ của Chu Thanh H); 01 túi nilon màu xanh; 02 túi nilon màu trắng; 03 mảnh nilon màu hồng; 22 túi nilon màu trắng; 01 lọ nhựa màu trắng hình trụ tròn có đường kính khoảng 07cm cao khoảng 10cm xung quanh quấn băng dính màu đen; 01 ống điếu tự chế bằng lọ thủy tinh có gắn đoạn ống màu xanh cao khoảng 30cm; trả lại cho chị Chu Thị Thúy 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, vỏ màu đen, loại máy màn hình cảm ứng. Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị: Bị cáo đã thành khẩn khai báo; có ông nội và bà nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự tuyên phạt bị cáo mức phạt tù từ 16 đến 17 năm tù. Miễn hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo, quyết định án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trung V người đại diện theo ủy quyền cho công ty TNHH L Điện Biên trình bày tại cơ quan điều tra: Ngày 31/12/2018 Công ty TNHH L Điện Biên ký hợp đồng lao động với bị cáo Chu Thanh H, theo đó Chu Thanh H lái xe taxi thuê cho công ty, cùng ngày ký hợp đồng công ty đã giao cho bị cáo H 01 xe ô tô biển kiểm soát 27A-01554, nhãn hiệu KIA, màu sơn xám, đăng ký xe số 005694. Việc bị cáo H sử dụng xe không đúng mục đích công ty không biết, bị cáo H đã vi phạm hợp đồng lao động đã ký kết. Sau đó Công ty đã có đơn xin lại xe ô tô và được Công an thành phố Điện Biên Phủ trả lại ngày 20/8/2019 nên ông không có đề nghị gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Chu Thị Th, ông Lê Hồng M trình bày thống nhất: Tháng 01/2019 ông Lê Hồng M mua điện thoại di động SAMSUNG J610 2018 Black giá 4.290.000đồng tại cửa hàng VIETTEL và giao cho vợ là bà Chu Thị Th sử dụng, đến tháng 5/2019 bà Th cho em trai là bị cáo Chu Thanh H mượn để sử dụng, việc bị cáo H sử dụng điện thoại để mua bán ma túy bà Th, ông M không biết. Bà Th, ông M đều đề nghị HĐXX xem xét trả lại điện thoại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Chu Thị Th.

Người có nghĩa vụ liên quan ông Tống Ngọc Tuấn A tại cơ quan điều tra trình bày: Khoảng 20 giờ ngày 06/7/2019 ông liên lạc bằng điện thoại với bị cáo và trao đổi mua được 01 viên hồng phiến với giá 60.000đồng, ngay sau khi mua được ma túy ông đã sử dụng hết. Hành vi mua và sử dụng ma túy của ông đã bị Công an thành phố Điện Biên Phủ ra quyết định xử phạt hành chính với số tiền 750.000đồng.

Người chứng kiến ông Nguyễn Thế M trình bày: Khoảng hơn 12 giờ ngày 08/7/2019 ông được Công an mời chứng kiến việc lập biên bản và bắt giữ Chu Thanh H, khám người bị cáo H thu được 13 viên hồng phiến, khám xe ô tô thu tại hộp để tay 50 viên hồng phiến, trong hộp để điện thoại có 07 viên hồng phiến. Ông nghe thấy bị cáo Chu Thanh H khai các viên nén màu hồng là ma túy tổng hợp của bị cáo, bị cáo đang mang đi bán thì bị bắt quả tang. Việc bị cáo khai báo do tự nguyện không ai ép buộc hoặc đánh đập.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; trong lời nói sau cùng tại phiên tòa, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo

Quá trình tranh tụng tại phiên tòa đã làm rõ: Cuối tháng 6/2019 bị cáo gặp đối tượng Đoàn Hồng Th và nhận từ Th 22,54gam Ketamine, 30,79gam MDMA, 6,93gam Ketamine và Tramadol để cất giấu và bán hộ khi có người hỏi mua. Ngày 04/7/2019 bị cáo tiếp tục gặp Th và nhận khoảng 200 viên Methamphetamine cũng để cất giấu và bán hộ, Th hứa tiền lãi thu được sẽ chia cho bị cáo. Khoảng 20 giờ ngày 06/7/2019 bị cáo bán 01 viên Methamphetamine với giá 60.000đồng cho Tống Ngọc Tuấn A, số tiền thu được bị cáo đưa cho Đoàn Hồng Th. Khoảng 00 giờ ngày 08/7/2019 bị cáo đang đi gặp người mua ma túy tại nhà nghỉ Hoàng Anh tại tổ 15, phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ thì bị công an bắt giữ cùng vật chứng. Lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01- 02); Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (BL 36); Biên bản khám xét (BL 17-18; BL19-20); Biên bản niêm phong vật chứng (BL 39, 41); Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu (BL 40); Biên bản mở niêm phong và xác định khối lượng lấy mẫu giám định chất ma túy và niêm phong lại vật chứng (BL 42-44); Biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định (BL 48); Kết luận giám định (BL 49); Biên bản ghi lời khai của người chứng kiến Nguyễn Thế Mười (BL 179C-179D); Bản tự khai và Biên bản ghi lời khai của Tống Ngọc Tuấn Anh (BL 143-149) và phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định bị cáo Chu Thanh H đã cất giấu 14,48gam Methamphetamine; 22,54gam Ketamine; 30,79gam MDMA và 6,93gam Ketamine + Tramadol để bán nhằm tìm kiếm lợi nhuận và trên thực tế bị cáo đã bán cho Tống Ngọc Tuấn Anh 01 viên Methamphetamine có khối lượng 0,097gam với giá 60.000đồng. Hành vi của bị cáo gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội, đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy, do đó bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng định khung quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 66/CT-VKS-P1 ngày 15/10/2019, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Chu Thanh H về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm, khoản, điều luật áp dụng là có căn cứ Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo

Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình Nhà nước nghiêm cấm. Hành vi của bị cáo xâm phạm chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy trực tiếp là hoạt động mua, bán chất ma túy. Hành vi của bị cáo là một trong các nguyên nhân gây mất trật tự, an toàn xã hội của địa phương.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ

Bị cáo Chu Thanh H được gia đình cho học văn hóa đến lớp 6/12 thì nghỉ học. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vì lợi ích cá nhân. Bị cáo không có tiền sự; chưa có tiền án; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và Người bào chữa cho bị cáo về tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có ông nội là ông Chu Ngọc L; bà nội là bà Nguyễn Thị Tđược tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng Nhì và Hạng Ba nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của BLHS đối với bị cáo.

Về hình phạt chính:

Từ các phân tích tại các đoạn [1], [2], [3], Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Chu Thanh H vừa đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo vừa thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và Người bào chữa cho bị cáo về hình phạt chính đối với bị cáo là có căn cứ Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung:

Căn cứ vào biên bản xác minh tài sản của cơ quan điều tra và qua tranh tụng tại phiên tòa cho thấy, gia đình bị cáo không có tài sản gì, không có thu nhập thường xuyên (BL 138), đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và Người bào chữa cho bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và tịch thu tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo là phù hợp Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Điện Biên Phủ, Điều tra viên; Cơ quan điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, Người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Các vấn đề khác của vụ án:

- Đối tượng tên Đoàn Hồng Th theo lời khai của bị cáo là người gửi ma túy cho bị cáo cất giấu hộ và bán, hiện không có mặt tại địa phương, Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

- Đối tượng Tống Ngọc Tuấn A là người mua 01 viên Methamphetamine của bị cáo để sử dụng, Công an thành phố Điện Biên Phủ đã xử phạt hành chính mức phạt 750.000đồng tại Quyết định số 49/QĐ-XPHC, ngày 10/8/2019 là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, điểm c khoản 2, điểm a, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên, Người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa như sau:

- Tịch thu tiêu hủy gồm các vật sau:14,3gam Methamphetamine; 22,51gam Ketamine; 30,75gam MDMA; 6,9gam Ketamine và Tramadol đã niêm phong (vật chứng còn lại sau khi đã trích mẫu gửi giám định thu giữ của Chu Thanh H); 01 túi nilon màu xanh; 02 túi nilon màu trắng có mép dính màu xanh; 03 mảnh nilon màu hồng; 22 túi nilon màu trắng; 01 lọ nhựa màu trắng hình trụ tròn có đường kính khoảng 07cm cao khoảng 10cm xung quanh quấn băng dính màu đen; 01 ống điếu tự chế bằng lọ thủy tinh có gắn đoạn ống màu xanh cao khoảng 30cm;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, vỏ màu đen, loại máy màn hình cảm ứng thu giữ của Chu Thanh H quá trình tố tụng cho thấy, chiếc điện thoại thuộc sở hữu hợp pháp của chị Chu Thị Th, chị Th cho bị cáo mượn để sử dụng liên lạc và chơi điện tử, việc bị cáo sử dụng điện thoại để trao đổi mua bán ma túy chị không biết, do đó cần trả lại cho chị Chu Thị Th là phù hợp.

- Đối với 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA thu giữ khi bắt bị cáo Chu Thanh H, quá trình điều tra đã làm rõ thuộc sở hữu hợp pháp của Công ty TNHH L Điện Biên, bị cáo Chu Thanh H chỉ được giao để chạy thuê cho công ty, việc bị cáo sử dụng xe vi phạm pháp luật Công ty không biết. Ngày 20/8/2019 cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên đã trả lại cho Công ty TNHH L Điện Biên do ông Nguyễn Trung V là người đại diện theo ủy quyền nhận 01 xe ô tô cũ đã qua sử dụng nhãn hiệu KIA Porte màu sơn xám xe đeo BKS: 27A-1554, xe có số khung: RNYTD41M5AC 009470, kèm theo chìa khóa xe, theo quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 39/QĐXLVC ngày 20/8/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Điện Biên Phủ là phù hợp với quy định tại Điều 36, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo phải chịu án phí HSST.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự;

- Điểm a, điểm c khoản 2, điểm a, điểm b khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

- Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án

1. Tuyên bố:

Bị cáo Chu Thanh H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Chu Thanh H 17 (mười bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/7/2019.

2. Về xử lý vật chứng:

* Tịch thu tiêu hủy các vật sau:

- 14,3gam Methamphetamine; 22,51gam Ketamine; 30,75gam MDMA; 6,9gam Ketamine và Tramadol (vật chứng còn lại sau khi đã trích mẫu gửi giám định thu giữ của Chu Thanh H) đã niêm phong trong phong bì bưu điện bên trong có 10(mười) mẫu vật ký hiệu từ M1 đến M10 có khối lượng M1: 0,95gam; M2: 0,26gam; M3: 2,89gam; M4: 1,92gam; M5: 0,67gam; M6: 7,61gam; M7: 22,51gam; M8: 15,62gam; M9: 15,13gam; M10: 6,90gam mặt trước phong bì ghi dòng chữ viết tay: Mẫu vật hoàn lại theo kết luận giám định số 769/GĐ-PC09 ngày 16/7/2019 của Phòng PC09 CAT Điện Biên. Mặt sau phong bì niêm phong được dán kín trên mép dán có chữ ký giáp lai ghi rõ họ và tên của Nguyễn Mạnh T và Hoàng Xuân L cùng hai dấu màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên. Ngoài cùng phong bì niêm phong được dán một lớp băng dính trắng trong suốt để bảo vệ.

- 01 túi nilon màu xanh; 02 túi nilon màu trắng có mép dính màu xanh; 03 mảnh nilon màu hồng; 22 túi nilon màu trắng được niêm phong trong 01 phong bì công văn của Công an thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên. Mặt trước phong bì niêm phong ghi dòng chữ viết tay: Vật chứng còn lại thu giữ của Chu Thanh H; SN: 1993; Nơi ĐKHK và chỗ ở: Tổ dân phố 09, phường N, thành phố P, tỉnh Điện Biên. Vật chứng còn lại gồm: 01 túi nilon màu xanh; 02 túi nilon màu trắng có mép dính màu xanh; 03 mảnh nilon màu hồng; 22 túi nilon màu trắng. Mặt sau phong bì niêm phong được dán kín trên mép dán có chữ ký giáp lai ghi rõ họ và tên của Vũ Đình H, Nguyễn Đăng B, Chu Thanh H, Nguyễn Mạnh T, Vừ A B và Lô Việt D cùng hai dấu niên phong màu đỏ của Cơ quan CSĐT- Công an thành phố Điện Biên Phủ. Ngoài cùng phong bì niêm phong được dán một lớp băng dính trắng trong suốt để bảo vệ.

- 01 lọ nhựa màu trắng hình trụ tròn có đường kính khoảng 07cm cao khoảng 10cm xung quanh quấn băng dính màu đen;

- 01 ống điếu tự chế bằng lọ thủy tinh có gắn đoạn ống màu xanh cao khoảng 30cm;

* Trả lại cho chị Chu Thị Th: 01 điện thoại loại cảm ứng, nhãn hiệu SAM SUNG màu đen, phần lưng máy có ghi số IMEL 354402/10/414745/9, IMEL: 354403/10/414745/7: S/M: R58M11V4BDY điện thoại cũ đã qua sử dụng thu giữ của Chu Thanh H.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên và Cục thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên ngày 15 tháng 10 năm 2019).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Chu Thanh H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo Chu Thanh H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Chu Thị Th, ông Lê Hồng M có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Công ty TNHH L Điện Biên, ông Tống Ngọc Tuấn A có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.

Cỡ chữ