vanban.org

Bản án 82/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hải Châu, TP Đà Nẵng Tuyên án 31/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đ 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt quả tang (ngày 20 tháng 4 năm 2019). Về xử lý vật chứng: Áp dụng quy định tại Điều 47 bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy với 0,176 gram ma túy mẫu “A” hoàn lại sau… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. HẢI CHÂU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/ 2019/HS-ST
Ngày: 31.7.2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Thông

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Tùng

Ông Huỳnh Tiễn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thảo Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 76/2019/HSST ngày 28 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2019/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Đ, sinh ngày 17 tháng 6 năm 1991 tại TP. Đà Nẵng; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: K140/06 đường L, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: không; Con ông Nguyễn P và bà Nguyễn Thị L; Gia đình có ba chị em, bị cáo là con thứ hai.

Tiền án, tiền sự: Chưa;

Nhân thân: Bị Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án số 81/2011/HSST ngày 29.10.2011.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20.4.2019. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ 50 phút ngày 20.4.2019, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm ma túy Công an quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng phối hợp với Công an phường Thạch Thang, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng kiểm tra hành chính tại nhà số N đường L, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Qua kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang trong phòng ngủ của Nguyễn Đ có 01 xô nhựa màu đỏ bên trong có 01 gói nilon chứa 01 gói nilon nhỏ được hàn kín có chứa tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong, ký hiệu “A”. Ngoài ra, còn thu giữ của Đ:

- 20 bao nilon kích thướng 7x04cm chưa qua sử dụng

- 01 cân điện tử màu đen

- 01 bình nhựa gắn tẩu thủy tinh (dung cụ sử dụng ma túy).

Theo Kết luận giám định số: 123/GĐ-MT ngày 24.4.2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng, kết luận: Tinh thể màu trắng trong mẫu niêm phong ký hiệu “A” gửi giám định là loại ma túy Methamphetamine khối lượng mẫu tinh thể “A” là 0,268 gram.

Qua điều tra, Nguyễn Đ khai nhận: Vào sáng ngày 19.4.2019, do nhu cầu sử dụng ma túy nên Đ gặp một thanh niên tên D (chưa rõ họ tên, địa chỉ) tại quán cà phê số 140 đường Lê Duẩn, thành phố Đà Nẵng; Đ hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, D đồng ý và Đ đưa cho Dũng số tiền 500.000 đồng. Một lúc sau D đi lấy ma túy đưa cho Đ. Sau đó, Công an kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.

Tại Bản Cáo trạng số 81/CT-VKS ngày 27 tháng 6 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Nguyễn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, trên cơ sở việc hỏi và tranh luận giữa những người tham gia tố tụng công khai, dân chủ và không bị hạn chế:

- Đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng đã đề cập đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đức từ 18 đến 24 tháng tù.

Đối với người tên D có hành vi bán ma túy cho Nguyễn Đ, hiện chưa xác định được họ tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

- Về tang – tài vật trong vụ án, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tuyên tịch thu tiêu hủy: 0,176 gram ma túy mẫu “A” hoàn lại sau giám định; 01 xô nhựa màu đỏ; 20 bao nilon kích thước 07x04cm chưa qua sử dụng; 01 cân điện tử màu đen và 01 bình nhựa gắn tẩu thủy tinh (dụng cụ sử dụng ma túy).

- Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đ đều khai nhận diễn biến vụ án đúng như Cáo trạng đã đề cập. Bị cáo không có ý kiến gì về mặt tội danh cũng như điều luật mà đại diện Viện kiểm sát truy tố và đề nghị áp dụng, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định số 123/GĐ-MT ngày 24.4.2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 05 giờ 50 phút ngày 20 tháng 4 năm 2019, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng phối hợp với Công an phường Thạch Thang, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng kiểm tra hành chính tại nhà số N đường L, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Đ có hành vi tàng trữ trái phép 0.268 gram ma túy Methamphetamine để sử dụng. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, số thứ tự 67, Nghị Định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19.7.2013 của Chính phủ. Nguyễn Đ tàng trữ ma túy với mục đích phục vụ cho nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy bị cáo có nhân thân xấu, trước đó vào năm 2011 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (đã được xóa án tích) nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện. Bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn có ma túy để sử dụng nên bị cáo đã bất chấp, thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, xâm phạm sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc. Hành vi của bị cáo thể hiện tính chất liều lĩnh và coi thường pháp luật. Do đó HĐXX thấy cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khi quyết định hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo có việc làm không ổn định, không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với đối tượng tên D là người có hành vi bán ma túy cho Nguyễn Đ, hiện chưa xác định được họ tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau là đúng quy định.

Từ những nhận định trên, xét thấy lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu về tội danh và áp dụng các điều luật cũng như đề nghị mức hình phạt là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đang thu giữ một số vật chứng. Căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử lý như sau: Đối với 0,176 gram ma túy mẫu “A” hoàn lại sau giám định; 01 xô nhựa màu đỏ; 20 bao nilon kích thước 07x04cm chưa qua sử dụng; 01 cân điện tử màu đen và 01 bình nhựa gắn tẩu thủy tinh (dụng cụ sử dụng ma túy) nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đ 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt quả tang (ngày 20 tháng 4 năm 2019).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng quy định tại Điều 47 bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy với 0,176 gram ma túy mẫu “A” hoàn lại sau giám định; 01 xô nhựa màu đỏ; 20 bao nilon kích thước 07x04cm chưa qua sử dụng; 01 cân điện tử màu đen và 01 bình nhựa gắn tẩu thủy tinh (dụng cụ sử dụng ma túy).

Các vật chứng nêu trên hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02 tháng 7 năm 2019.

3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Đ phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND quận Hải Châu;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

- VKSND TP Đà Nẵng;

- TAND TP Đà Nẵng;

- CQCSĐT CA quận Hải Châu;

- THA dân sự quận Hải Châu;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ.

Phạm Minh Thông

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ