- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Văn Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ của Mai Văn Th.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy toàn bộ
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2018/HSST Ngày: 29-8-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Kiều Hương.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Công Hải và bà Nguyễn Thị Dung.
- Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Vân – Thư ký Toà án nhân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lê Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 87/2018/ HSST, ngày 09 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2018/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Mai Văn Th, (tên gọi khác: không); Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1981 tại xã QTh, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An;
Nơi cư trú: thôn Th Đ, xã QTh, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Mai Văn Th, sinh năm 1942 và con bà Dương Thị T, sinh năm 1944; vợ: Đàm Thị Th, sinh năm 1987 (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 29/10/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án hình sự sơ thẩm số 88/2013/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 11/4/2015. Bị tạm giữ tạm giam tại Công an tỉnh Nghệ An từ ngày 24/5/2018 đến nay; (có mặt).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Lê Xuân X, sinh năm 1971
Trú tại: Xóm Th.T, xã Q Th, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 8 giờ 30 phút ngày 24/5/2018, Th đi xe máy biển kiểm soát 37L3-9171 đến nhà anh Nguyễn Đức Ph, sinh năm 1981, trú tại: Xóm x, xã D Y, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An để nhờ Ph mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi Th gặp Ph đang ở nhà một mình, lúc này Th lấy ra 290.000 đồng đưa cho Ph nhờ đi mua hộ 01 gói ma túy, Ph cầm tiền rồi bảo Th ngồi đó chờ, khoảng 01 tiếng sau Ph quay về đưa cho Th một gói ma túy được gói bằng tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 1000 đồng. Th cầm lấy gói ma túy đó. Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày khi Th đi đến xóm x, xã DY, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác thuộc đội Cảnh sát điều tra phạm tội kinh tế ma túy Công an huyện Diễn Châu phát hiện bắt quả tang.
Kết luận giám định số 678/KL-PC54 (MT) ngày 25/5/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An, kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Mai Văn Th gửi tới giám định là ma túy (Heroin), có tổng khối lượng 0,2 gam.
Cáo trạng số số 92/CT-VKSDC, ngày 06/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố bị cáo Mai Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự.
Luận tội tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã đánh giá tính chất, hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c, khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự 2015; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo Mai Văn Th từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung. Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ. Bị cáo không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng:
Quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về hoạt động “Điều tra” “Truy tố”, đồng thời đã giải thích và tạo điều kiện để các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đúng và đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
. Về nội dung:
2.1. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có tại hồ sơ vụ án; bị cáo Th đã có hành vi mua 0,2g ma túy (Heroin) với giá 290.000 đồng nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu cá nhân của mình. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Mai Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS năm 2015 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ.
2.2. Đánh giá tính chất vụ án: Xét vụ án thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo là người nghiện ma túy, bất chấp sự nghiêm cấm của luật pháp để thực hiện hành vi phạm tội miễn sao có lợi và nhằm thỏa mãn cơn nghiện ma túy của bản thân. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội.
2.3. Về việc đánh giá nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2013 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu xử phạt 24 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành xong bản án ngày 13/4/2015, tính đến ngày phạm tội thì bị cáo đã được xóa án tích nên không xác định là tình tiết tăng nặng “tái phạm”; trong quá trình điều tra và trước phiên tòa bị cáo luôn có thái độ khai báo thành khẩn, thể hiện sự ăn năn hối cải. Bị cáo có bố và mẹ là người có công với cách mạnh được tặng huân chương kháng chiến. Đây được xem là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập không ổn định, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, không có tài sản riêng có giá trị lớn nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Trong quá trình điều tra, còn có đối tượng tên Nguyễn Đức Ph là người bán ma túy cho Th nhưng qua xác minh hiện tại Ph không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý sau. Theo xác minh chiếc xe máy mà bị cáo sử dụng là của anh Lê Xuân X, việc bị cáo sử dụng xe máy để đi mua ma túy anh X không biết nên cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.
2.3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ của Mai Văn Th.
2.4. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Mai Văn Th 18 (mười tám) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 24/5/2018.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ của Mai Văn Th. Vật chứng trên hiện đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu theo phiếu nhập kho số 406 ngày 07/8/2018.
Về án phí: Căn cứ vào điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14. Buộc bị cáo Mai Văn Th phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
| (đã ký) (đã ký) Hoàng Công Hải Nguyễn Thị Dung | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đoàn Thị Kiều Hƣơng |