vanban.org

Bản án 82/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 24/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm nếu bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Thị M cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Đồng Nai giám sát giáo dụ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị M - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2018/HS-ST
Ngày 24 - 8 - 2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Liên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Ngẫu.

Ông Nguyễn Văn Ba.

-Thƣ ký phiên tòa: Ông Võ Quốc Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Ông Trần Tiến Dũng, kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 86/2018/HSST, ngày 25 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị M, tên gọi khác không, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1978 tại Hải Dương.

Nơi cư trú: Ấp 8, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); Chồng Phạm Minh S, sinh năm 1971; có 06 người con: Lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giam từ ngày 29/6/2018 đến ngày 17/7/2018 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lãnh.

-Người bị hại: Ông Nguyễn Đình D, sinh năm 1970

Địa chỉ: Ấp 5, xã C, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo, ông D có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Thị M không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Lúc 19 giờ ngày 13/2/2018, M điều khiển xe mô tô biển số 60C1-021.64 (có dung tích xi lanh 110) đi từ nhà ở ấp 8, xã T, huyện C để đến thị trấn LT, huyện Long Thành đón con. Đến 19 giờ 15 phút cùng ngày, khi M điều khiển xe mô tô đi đến km 19 +200, Hương lộ 10, xã B hướng xã B đi quốc lộ 51 thì M phát hiện 01 xe ô tô (loại 16) chỗ ngồi đang đỗ bên lề phải phía trước cùng chiều nên M điều khiển xe mô tô lấn trái sang làn đường ngược chiều để vượt qua xe ô tô. Khi M vừa điều khiển xe lấn trái sang làn đường ngược chiều thì va chạm với xe mô tô, biển số 51T1-2290 do ông Nguyễn Đình D điều khiển đang lưu thông theo chiều ngược lại làm M và ông D ngã xuống đường. Hậu quả, ông D bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đồng Nai.

I. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0385/GĐPY/2018 ngày 25/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai xác định thương tích của Nguyễn Đình D như sau:

-Tổn thương dập não vùng trán trái, kích thước 1,5 x 1,7cm, 0,9 x 1,9 và dập não thái dương trái, kích thước 2,4 x 3,4xm, 01 x 02cm (Áp dụng chương 2, điều III, mục 2). Tỷ lệ 40%.

-Tổn thương nứt sọ trán phải, kích thước 10cm và nứt sọ trán trái, kích thước 07cm, điện não đồ, có hội chứng suy nhược (Áp dụng chương 2, điều I, mục 3.3). Tỷ lệ 30%.

-Tổn thương máu tụ dưới màng cứng thái dương trái đã điều trị kết quả tốt (Áp dụng chương 2, điều III, mục 6). Tỷ lệ 21%.

- Chấn thương sọ não gây tổn thương thị thần kinh mắt phải, hiện để lại thị lực mắt phải sáng, tối (-), thị lực mắt trái là 5/10 (Áp dụng chương 11). Tỷ lệ 51%.

-Tổn thương gãy cung gò má hai bên, hiện để lại sai khớp cắn hở (Áp dụng chương 12, điều I, mục 2). Tỷ lệ 25%.

-Tổn thương gãy xương đòn trái, hiện can xấu, chồng xương (Áp dụng chương 8, Điều V, mục 1.2). Tỷ lệ 16%.

- Tổn thương gãy xương thành xoang hàm hai bên (Áp dụng chương 13, điều II, mục 6.1). Tỷ lệ 15%.

- Tổn thương gãy xương chính mũi, không ảnh hưởng chức năng thở và ngửi (Áp dụng chương 13, điều II, mục 3.1). Tỷ lệ 09%.

- Tổn thương gãy thành ngoài hốc mắt hai bên không ảnh hưởng thị lực (Áp dụng chương 11, điều XIV, mục 1). Tỷ Lệ 07%.

Vết thương mi mắt phải để lại sẹo, kích thước 01 x 0,2 cm và vết thương cung mày trái (nằm trong lông mày) để lại sẹo, kích thước 05 x 0,2cm (Áp dụng chương 9, điều I, mục 1). Tỷ lệ 03%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể (Áp dụng theo phương pháp cộng lùi do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 93%.

II. Tại biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông đã xác định:

Lấy mép đường bên phải theo hướng đường 769 đi Cẩm Đường làm mép đường chuẩn.

Lấy trụ điện số 214 bên phải lề đường của mép đường chuẩn làm mốc cố định.

Sau khi xảy ra tai nạn trên hiện trường còn để lại các dấu vết sau:

1. Vết máu nạn nhân: Sau khi xảy ra tai nạn trên hiện trường để lại vết máu. Đo từ vết máu vào mép đường chuẩn là 0m50.

2. Xe mô tô, biển số 51T1-2290: Sau khi xảy ra tai nạn xe mô tô nằm ngã về bên phải, , đầu xe quay về hướng Cẩm Đường, đuôi xe quay về hướng 769. Đo từ trục bánh trước vào mép đường chuẩn dài 1m.

-Đo từ trục bánh sau vào mép đường chuẩn dài 0 m30. Đo từ trục bánh sau vào vết máu dài 1m40.

3. Xe mô tô, biển số 60C1-01264: Sau khi xảy ra tai nạn xe nằm ngã về bên trái, đầu xe quay về hướng Cẩm Đường, đuôi xe quay về hướng đường 769.

- Đo từ trục bánh trước vào mép đường chuẩn dài 1m60.

- Đo từ trục bánh sau vào mép đường chuẩn dài 0m90.

- Đo từ trục bánh sau đến điểm mốc cố định dài 16m10.

-Đo từ trục bánh sau đến trục bánh sau xe mô tô 51T1-2290 dài 0m80.

Vật chứng vụ án: 01 xe mô tô, biển số 60C1-021.66 đã trả lại cho bị cáo. Riêng 01 xe mô tô, biển số 51T1-2290 do Bùi Quý Công đứng tên chủ sở hữu, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành đang tạm giữ, tiếp tục xác minh xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: Giữa bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản tiền nào khác nên không xét.

Tại cáo trạng số 89/CT -VKS , ngày 23 tháng 7 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thị M như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ”. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M mức án từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm.

Về trách nhiệm dân sự: Giữa gia đình bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên không xét

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Long Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị M khai nhận: Lúc 19 giờ ngày 13/2/2018, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 60C1-021.64 đi từ nhà ở ấp 8, xã T, huyện C để đến thị trấn LT, huyện LT đón con. Khi bị cáo điều khiển xe mô tô đi đến km 19 +200, Hương lộ 10, xã B hướng xã B đi quốc lộ 51 thì thấy có 01 xe ô tô (loại 16) chỗ ngồi đang đỗ bên lề phải phía trước cùng chiều nên bị cáo điều khiển xe mô tô lấn trái sang làn đường ngược chiều để vượt qua xe ô tô. Bị cáo vừa điều khiển xe lấn trái sang làn đường ngược chiều thì va chạm với xe mô tô, biển số 51T1-2290 do ông Nguyễn Đình D điều khiển đang lưu thông theo chiều ngược lại đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã mô tả. Bị cáo thống nhất với bản kết luận giám định pháp y số 0385/GĐPY/2018 ngày 25/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, bị cáo không có ý kiến gì.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa cũng như các chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố bị cáo theo quy định tại theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn công cộng, vi phạm Điều 9, khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ. Lẽ ra khi điều khiển xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ, bị cáo phải tuân thủ các quy định về an toàn giao thông đường bộ nhưng bị cáo đã vi phạm đi không đúng làn đường nên đã va chạm với xe mô tô biển số 51T1-2290 do ông Nguyễn Đình D điều khiển đang lưu thông theo chiều ngược lại, làm cho ông D ngã xuống đường gây ra hậu quả ông D bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 93%. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo có nhân thân tốt, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo có 02 người con bị tật nguyền: 01 người con bị mù và 01 người con bị bại não bẩm sinh, đối với người con bị bại não hàng ngày cần phải có sự chăm sóc của cha mẹ, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn. Tại phiên tòa bị hại ông D đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để có điều kiện chăm sóc con cái tật nguyền, gia cảnh bị cáo rất khó khăn, đây là các tình tiết giảm nhẹ, được quy định tại điểm b, s khoản1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Giữa bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong. Bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xét.

Về vật chứng vụ án: 01 xe mô tô biển số 60C1-021.66 do anh Phạm Minh S là chồng của bị cáo đứng tên sở hữu, bị cáo M tự ý lấy xe sử dụng nên xe mô tô trên đã trả lại cho anh S.

Đối với xe mô tô biển số 51T1-2290 do Bùi Quý C đứng tên chủ sở hữu, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành đang tạm giữ, tiếp tục xác minh xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị M phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm nếu bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị M cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Đồng Nai giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

4. Về trách nhiệm dân sự: Không xét.

5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UB.TVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thị M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm .

6. Bị cáo Nguyễn Thị M, bị hại Nguyễn Đình D được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ