vanban.org

Bản án 82/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin L hôn của chị Trần Thị T L.

Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị T L được L hôn với anh Huỳnh Chí T. Về con chung: Có 02 con chung tên Huỳnh Thị Xuân H, sinh ngày 07/01/2013 và cháu Huỳnh Thị Xuân Lan, sinh ngày 17/10/2015. Giao cháu Huỳnh Thị Xuân H và cháu Huỳnh Thị Xuân Lan cho chị Trần Thị T L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị TL và Huỳnh Chí T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin L hôn của chị Trần Thị T L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VŨNG LIÊM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 82/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 26-10-2018
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM – TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Lanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Chính.

2. Ông Lê Văn Hảo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Quyên - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

- Kiểm sát viên Vieän Kieåm saùt nhaân daân huyeän Vuõng Lieâm không tham gia phiên tòa.

Ngày 26 tháng 10 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 260/2018/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2018, về tranh chấp “ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2018/QĐXX-ST ngày 08 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thanh L – sinh ngày: 06/12/1989 (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Huỳnh Chí T – sinh năm: 1988 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: ấp T, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 28/5/2018 tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Trần Thị T L trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Huỳnh Chí T do quen biết tự tìm hiểu nhau rồi tiến tới hôn nhân có tổ chức lễ cưới vào tháng 02 năm 2012 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Trung Ngãi vào ngày 21/02/2012.

Sau ngày cưới chị và anh T sống chung gia đình cha mẹ chồng. Thời gian vợ chồng chung sống hạnh phúc được 05 năm đến tháng 02 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn.

Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường hay cự cải, anh T không tôn trọng chị. Anh T khi nhậu về đánh chị, không chăm lo làm ăn và không quan tâm đến vợ con. Chị có khuyên nhưng anh T không sửa đổi. Chị và anh T đã không còn sống chung với nhau từ tháng 8 năm 2017 cho đến nay.

- 1 -

Nay chị cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được L hôn với anh Huỳnh Chí T.

- Về con chung: Có hai con chung tên Huỳnh Thị Xuân H, sinh ngày 07/01/2013 và Huỳnh Thị Xuân Lan, sinh ngày 17/10/2015. Sau khi L hôn chị L yêu cầu được nuôi dưỡng cháu H và cháu Lan không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài saûn chung: Chị Trần Thị T L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung phải thu phải trả của vợ chồng: Chị Trần Thị T L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Huỳnh Chí T đã được Tòa án tiến hành niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng. Theo đơn xin xác nhận của Công An xã Trung Hiệp ngày 28/5/2018 do chị L cung cấp thì anh Huỳnh Chí T, sinh năm 1988, đăng ký thường trú ấp Trung Trị, xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long đi đi, về về địa phương nhưng anh T không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và dự phiên tòa xét xử sơ thẩm. Xét việc vắng mặt của anh T không gây trở ngại cho việc xét xử nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

Tài liệu, chứng cứ trong vụ án:

Nguyên đơn đã nộp: Đơn khởi kiện ngày 28/5/2018, Giấy chứng nhận kết hôn; giấy khai sinh (bản sao); sổ hộ khẩu, giấy chứng minh nhân dân (bản sao); Đơn xin xác nhận; Dịch vụ chuyển phát nhanh; Bảng khai ý kiến.

Bị đơn vắng nên không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Chị Trần Thị T L có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long giải quyết việc hôn nhân giữa chị và anh Huỳnh Chí T. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh Huỳnh Chí T vắng mặt, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh T nhưng anh T cũng không đến. Nên căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Huỳnh Chí T.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T L và anh Huỳnh Chí T do quen biết tự tìm hiểu nhau rồi tiến tới hôn nhân có tổ chức lễ cưới vào tháng 02 năm 2012 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Trung Ngãi vào ngày 21/02/2012 nên quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh T là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống theo chị L trình bày thì thời gian anh chị chung sống hạnh phúc được 05 năm đến tháng 02 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên

- 2 -

nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình vợ chồng không hợp thường hay cự cải, anh T không chăm lo làm ăn và không quan tâm đến vợ con, có khi anh T còn đánh chị. Chị và anh T đã không còn sống chung với nhau từ tháng 8 năm 2017 cho đến nay. Tại phiên tòa hôm nay chị L yêu cầu L hôn với anh T, anh T vắng mặt nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin L hôn của chị Trần Thị T L.

Về con chung: Có 02 con chung tên Huỳnh Thị Xuân H, sinh ngày 07/01/2013 và cháu Huỳnh Thị Xuân Lan, sinh ngày 17/10/2015. Hiện nay cháu H và cháu Lan đang sống chung với chị L. Sau khi L hôn chị L yêu cầu được nuôi dưỡng cháu H và cháu Lan không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, anh T vắng mặt nên giao cháu Huỳnh Thị Xuân H và cháu Huỳnh Thị Xuân Lan cho chị L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Trần Thị T L không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Huỳnh Chí T vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung phải thu, phải trả: Chị Trần Thị T L không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Huỳnh Chí T vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị T L phải chịu án phí theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 9, Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin L hôn của chị Trần Thị T L.

Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị T L được L hôn với anh Huỳnh Chí T.

Về con chung: Có 02 con chung tên Huỳnh Thị Xuân H, sinh ngày 07/01/2013 và cháu Huỳnh Thị Xuân Lan, sinh ngày 17/10/2015. Giao cháu Huỳnh Thị Xuân H và cháu Huỳnh Thị Xuân Lan cho chị Trần Thị T L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Huỳnh Chí T không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Về tài sản chung: Chị Trần Thị T L không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Huỳnh Chí T vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung phải thu, phải trả: Chị Trần Thị T L không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Huỳnh Chí T vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- 3 -

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị T L phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền trên được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) mà chị Trần Thị T L đã nộp theo biên lai thu số N0 0008943, ngày 30/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm. Chị Trần Thị T L đã nộp đủ.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại. Riêng bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ