- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án HNGĐ giữa nguyên đơn Nguyễn Thị Thanh T và bị đơn Ngô Văn T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với ông Ngô Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2018/HNGĐ-ST Ngày: 17/10/2018 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoài Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Lê Quý Hùng
2/ Ông Thái Cao Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoa Kim Cúc – Thư ký Toà án nhân dân huyện C.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 188/2018/TLST-HNGĐ ngày 29/5/2018 về việc: “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2018/QĐST-HNGĐ ngày 17/9/2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 68/2018/QĐST-HNGĐ ngày 02/10/2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T - Sinh năm: 1977
Địa chỉ: tổ 33, khu phố T, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. (Có mặt tại phiên toà)
2. Bị đơn: Ông Ngô Văn T - Sinh năm: 1967
Địa chỉ: thôn C, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Trong đơn khởi kiện đề ngày 15/5/2018, bản tự khai ngày 03/7/2018 và tại phiên tòa nguyên đơn Nguyễn Thị Thanh T trình bày:
Về yêu cầu ly hôn: Bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Ngô Văn T tự nguyện kết hôn với nhau năm 2012 và được UBND xã C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 42/2012, quyển số 01 ngày 25/4/2012.
Quá trình chung sống: Khi mới kết hôn vợ chồng bà T sống hòa thuận, hạnh phúc, nhưng sau một thời gian thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên kình cãi nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng không còn tình cảm, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Khi bà T mang thai thì vợ chồng bà về lại Bình Phước để làm ăn, nhưng ông T không đồng ý. Đến tháng 9/2012 thì ông T bỏ mẹ con bà về lại C nên tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Vợ chồng bà T đã sống ly thân nhau từ năm 2012 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay bà T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã quá trầm trọng, vợ chồng không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống cùng nhau được nên bà T yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Ngô Văn T.
Về yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà T và ông T có 01 con chung là cháu Ngô Diệu T sinh ngày 22/8/2012. Hiện nay, cháu T đang sống cùng bà T; bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu T và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến như sau:
- Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn Nguyễn Thị Thanh T đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn Ngô Văn T không chấp hành các quy định của pháp luật về tố tụng, đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm.
- Về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp lý nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn cũng như về việc nuôi con và cấp dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về tố tụng:
Ngày 25/5/2018, bà Nguyễn Thị Thanh T có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Ngô Văn T, đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện C đã thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, bị đơn Ngô Văn T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về yêu cầu ly hôn: Bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Ngô Văn T tự nguyện kết hôn với nhau năm 2012 và được UBND xã C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 42/2012, quyển số 01 ngày 25/4/2012, đây là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian chung sống giữa bà T và ông T đã xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên kình cãi nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng bà T, ông T không còn tình cảm với nhau và bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Bà T và ông T đã sống ly thân nhau từ năm 2012 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Tòa án đã triệu tập nhiều lần để hòa giải nhưng ông T vẫn cố tình vắng mặt, cho thấy thái độ bất cần, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng của ông T. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thanh T.
[3] Về yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà T và ông T có 01 con chung chưa thành niên là cháu Ngô Diệu T sinh ngày 22/8/2012. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay cháu T đang sống với bà T, bà T có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T. Để đảm bảo cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc và học tập của cháu T nên chấp nhận yêu cầu của bà T, tiếp tục giao cháu T cho bà T nuôi dưỡng, giáo dục.
Bà Tuyền không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên không xét.
[4] Về yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn: Bà Nguyễn Thị Thanh T không yêu cầu giải quyết nên không xét.
[5] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với ông Ngô Văn T.
2. Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con:
- Giao cháu Ngô Diệu T sinh ngày 22/8/2012 cho bà Nguyễn Thị Thanh T được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Thanh T không yêu cầu nên không xét.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
3. Về yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn: Bà Nguyễn Thị Thanh T không yêu cầu giải quyết nên không xét.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số AA/2016/0004304 ngày 25/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C; bà Nguyễn Thị Thanh T đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
5. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND huyện C; - THADS huyện C; - UBND xã C; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Hoài Tâm |