vanban.org

Bản án 82/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 08/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Lê Văn N phạm tội “Đánh bạc” và phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

Bị cáo Trịnh T và bị cáo Lâm Hoàng T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”. Bị cáo Nguyễn C phạm tội “Đánh bạc”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức đánh bạc - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Lê Văn N phạm tội “Đánh bạc” và phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 109/2015/QH13 Về việc thi hành Bộ Luật Hình sự; Nghị quyết số 144/2016/QH13 Về lùi hiệu lực thi hành của Bộ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ Q

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 82/2017/HSST
Ngày: 08-12-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q, TỈNH QUẢNG NGÃI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Phạm Thanh Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Nguyễn Đình Dũng;

2. Ông Hoàng Minh Tân.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Linh – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa:Bà Đinh Thị Thùy Dương– Kiểm sát viên.

Ngày 08/12/2017, tạitrụ sở Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.Tòa án nhân dân thành phố Q mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số86/2017/HSST ngày 02/10/2017đối với các bị cáo:

1. Lê Văn N, sinh năm 1965; trú tại: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn:9/12; con ông Lê T (chết) và bà Hà Thị T (chết); vợ là Nguyễn Thị L, có 02 con lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

2. Trịnh T, sinh năm: 1972; nơi đăng ký HKTT: Thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn: 8/12; con ông Trịnh Th (chết) và bà Lê Thị P; vợ là Lê Thị H, có 02 con lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

3. Lâm Hoàng T, sinh năm: 1973; nơi đăng ký HKTT: Tổ 17, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; chỗ ở hiện nay:Tổ 23, phường Q, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ học vấn: 8/12; con ông Lâm H (chết) và bà Lê Thị H (chết); vợ là Trần Thị M (đã ly hôn), có 02 con lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 18/3/2017 đến ngày 24/3/2017 được cho tại ngoại; có mặt.

4. Nguyễn C, sinh năm: 1983; trú tại: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn B và bà Võ Thị Đ; vợ là Nguyễn Thị Kim D, có 02 con lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trương Văn L, sinh năm: 1968, trú tại: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.

2. Ông Tống Đức T, sinh năm: 1964, trú tại: Tổ 17, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.

3. Anh Đặng Ngọc T, sinh năm: 1986, trú tại: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt

4. Anh Nguyễn Tấn N, sinh năm: 1981, trú tại: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.

5. Anh Nguyễn Thành C, sinh năm: 1985, trú tại: Đội 3, thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.

6. Anh Lê Thanh T, sinh năm: 1978, trú tại: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt

7. Anh Võ Đ, sinh năm: 1970, trú tại: Thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.

8. Ông Võ Văn T, sinh năm: 1967, trú tại: Tổ 12, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.

9. Ông Trần Văn Q, sinh năm 1965; trú tại: Tổ 20, phường Q, thành phố Q,tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.

NHẬN THẤY:

Các bị cáo Lê Văn N, Lâm Hoàng T, Trịnh T, Nguyễn C bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Đầu tháng 3/2017, Lê Văn N mở trường gà phía sau nhà ông Lê Bthuộc tổ 25, phường Q, thành phố Q để thu tiền xâu của các con bạc. Lê Văn N mua sắm các công cụ, phương tiện sử dụng choviệc tổ chức đá gà. Vào các ngày thứ 6, thứ 7 và chủ nhật hàng tuần, Lê Văn N tổ chức đá gà để các con bạc tham gia cá cược từ khoảng 08 giờ đến chiều tối. Lê Văn N thu 10% tiền thắng bạc từ con bạc sau mỗi trận gà. Trịnh T là người làm thư ký tại trường gà để thu tiền xâu của người thắng bạc rồi tính toán và chia tiền xâu với N. Kể từ ngày 17/3/2017, vì đối tượng tham gia đánh bạc đông nên Lâm Hoàng T cùng Trịnh T làm thư ký tại trường gà. Sau mỗi trận gà, Lê Văn N trích cho thư ký số tiền 30% tổng số tiền xâu thu được. Khoảng 08 giờ ngày 18/3/2017, Lê Văn N tổ chức đá gà để các con bạc tham gia cá cược tại hai vi gà. Lúc này, Lê Thanh T mang một con gà Xám chân xanh đến cáp với con gà Ô chân vàng của một người đàn ông (không rõ lai lịch) rồi thả vào vi gà phía Tây để đá. Ở vi gà phía Đông có 02 người ở xã N, huyện T mang một con gà Tía chân vàng và một con gà Ô chân trắng mang ra cáp với nhau rồi thả vào vi để đá và cáp độ. Tại trường gà, Lâm Hoàng T và Trịnh T làm thư ký. Tại vi gà phía tây con gà xám chân xanh đá với con gà ô chân vàng: Lâm Hoàng T ghi được 19 lượt cá cược cho 22 người chơi với số tiền 22.780.000đ (Hai mươi hai triệu bảy trăm tám mươi ngàn đồng), Trịnh T ghi được 26 lượt cá cược cho 24 người chơi với số tiền 45.150.000đ (Bốn mươi lăm triệu một trăm năm mươi ngàn đồng). Tại vi gà phía đông, con gà Tía chân vàng đá với con gà Ô chân trắng: Lâm Hoàng T ghi được 16 lượt cá cược cho 16 người chơi với số tiền 18.100.000đ (Mười tám triệu một trăm ngàn đồng); Trịnh T ghi được 26 lượt cá cược cho 28 người chơi với số tiền 27.750.000đ (Hai mươi bảy triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng). Khi con gà Xám chân xanh đá với con gà Ô chân vàng ở hồ thứ 6; con gà Tía chân vàng đá với con gà Ô chân trắng ở hồ thứ 3, thì đội Cảnh sát hình sự Công an thành phố Q phát hiện, bắt quả tang Nguyễn C, Nguyễn Thành C, Võ Văn T, Trần Văn Q, Trần Thị T và thu giữ tang vật gồm:

- 05 con gà đá .

- 02 cái vi bằng xốp màu đen để tổ chức đá gà.

- 01 cuộn chỉ màu đen, 01 cuộn chỉ màu xanh, 01 băng keo màu đen, 01 cuộn băng keo màu trắng; 10 cái khăn màu trắng.

- 05 miếng dao lam.

- 01 cái cân để cân gà.

- 01 đồng hồ treo tường để theo dõi thời gian từng hồ gà.

- 02 miếng ván gỗ để ghi kèo các hồ gà.

- 04 giỏ đựng gà.

- 01 tập vở học sinh ghi tên người tham gia đánh bạc và số tiền cá cược ghi trong vở là 40.680.000đ (Bốn mươi triệu sáu trăm tám mươi ngàn đồng).

- 01 tập vở học sinh có ghi tên và tỷ lệ cá cược do Trịnh T bỏ lại tại trường gà.

- 04 xe máy các loại, gồm xe 76V3-9908 của Võ Đ, xe 76U1-03927 của Lê Văn N, xe 76X9-5866 của Trần Văn Q, xe 76P6-3204 của Trương Văn L.

- 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, tiền ngân hàng Việt Nam 1.500.000 đồng của Nguyễn C.

- 01 điện thoại di động hiệu mobell màu xanh đen, tiền ngân hàng Việt Nam 1.000.000đồng của Lâm Hoàng T.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, tiền ngân hàng Việt Nam 5.800.000đồng của Võ Văn T.

- 01 điện thoại di động hiệu Mobistar của Nguyễn Thành C.

Riêng Lê Văn N, Trịnh T và một số đối tượng khác khi công an phát hiện bắt đã bỏ chạy khỏi trường gà.

Ngày 20/03/2017, Cơ quan điều tra đã mời Lê Văn N về làm việc, tại Cơ quan điều tra N đã khai nhận hành vi tổ chức đánh bạc của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra thu thập được.

Ngày 08/06/2017, Cơ quan điều tra đã mời Trịnh T về làm việc. Tại Cơ quan điều tra Trịnh T khai nhận làm thư ký tại trường gà vào ngày 18/3/2017, ghi các lượt cá cược tại trường gà cụ thể: Tại vi gà phía tây, con gà Xám chân xanh đá với con gà Ô chân vàng: T ghi được 26 lượt cá cược với số tiền 45.150.000đồng; Tại vi gà phía đông, con gà Tía chân vàng đá với con gà Ô chân trắng: T ghi được 26 lượt cá cược với số tiền 27.750.000đồng. Như vậy, ngày 18/3/2017, tại hai vi gà Trịnh T đã ghi tổng cộng 52 lượt cá cược với tổng số tiền 72.900.000đ (Bảy mươi hai triệu chín trăm nghìn đồng).

Quá trình điều tra xác định, trong thời gian tổ chức đánh bạc, bị can Lê Văn N thu lợi số tiền 5.500.000đồng; Trịnh T thu lợi được 700.000đồng; Lâm Hoàng T thu lợi được 120.000đồng.

Trịnh T đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 700.000đồng.

Ngoài ra, ngày 18/3/2017, Lê Văn N tham gia 08 lượt cá cược với tổng số tiền là 5.250.000đồng. N đã giao nộp số tiền đánh bạc là 5.250.000đồng.

Cơ quan điều tra đã làm việc với các đối tượng tham gia đánh bạc và xác định hành vi cá cược của các đối tượng vào ngày 18/3/2017 như sau:

- Nguyễn C tham gia cá cược09 lượt với tổng số tiền là 5.800.000đồng. Nguyễn C đã giao nộp số tiền đánh bạc là 5.800.000đồng.

- Võ Văn T tham gia cá cược 01 lượt với với tổng số tiền cá cược là 500.000 đồng.

- Nguyễn Thành C tham gia cá cược 01 lượt với số tiền 100.000 đồng.

- Đặng Ngọc T tham gia cá cược 02 lượt với tổng số tiền là 2.500.000 đồng.

- Lê Thanh T tham gia cá cược 04 lượtvới tổng số tiền 3.500.000đồng.

- Nguyễn Tấn N tham gia cá cược 02 lượt với tổng số tiền là 550.000đồng.

- Võ Đ tham gia cá cược 02 lượtvới tổng số tiền là 750.000đồng.

- Tống Đức T tham gia cá cược 07 lượt với tổng số tiền 4.550.000đồng.

- Trương Văn L tham gia cá cược 02 lượt với tổng số tiền là 450.000đồng .

Tại bản cáo trạng số 78/QĐ-VKS ngày 29/9/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q truy tố Lê Văn N vềtội: “Tổ chức đánh bạc”theo khoản 1 Điều 249 và tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248Bộ luật Hình sự; Lâm Hoàng T, Trịnh T về tội: “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Nguyễn C về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đề nghị:

Áp dụng điểm khoản 1 Điều 249; điểmp Khoản 1 và Khoản 2 Điều 46; Điều 30 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn N từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng về tội Tổ chức đánh bạc.

Áp dụng điểm khoản 1 Điều 248; Điềup Khoản 1và Khoản 2 Điều 46; Điều 30 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn N từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng về tội Đánh bạc.

Áp dụng điểm khoản 1 Điều 249; điểm p Khoản 1Điều 46; Điều 30 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáoTrịnh T từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng về tội Tổ chức đánh bạc.

Áp dụng điểm khoản 1 Điều 249; điểmp khoản 1Điều 46; Điều 30 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lâm Hoàng T từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng về tội Tổ chức đánh bạc.

Áp dụng điểm khoản 1 Điều 248; điểmh, p khoản 1Điều 46; Điều 30 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáoNguyễn C từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng về tội Đánh bạc.

3. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 42 của Bộ luật hình sự, Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Buộc Lê Văn N nộp 5.500.000 đồng và buộc Lâm Hoàng T nộp 120.000 đồng tiền thu lợi bất chính từ việc tổ chức đánh bạc để sung quỹ nhà nước.

Tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền Lê Văn N dùng để đánh bạc là 5.250.000 đồng và Nguyễn C dùng để đánh bạc là 5.800.000 đồng và 700.000 đồng tiền thu lợi bất chính của bị cáo Trịnh T. Số tiền trên các bị cáo đã nộp nên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:

- 02 cái vi bằng xốp màu đen để tổ chức đá gà.

- 01 cuộn chỉ màu đen, 01 cuộn chỉ màu xanh, 01 băng keo màu đen, 01 cuộn băng keo màu trắng; 10 cái khăn màu trắng.

- 05 miếng dao lam.

- 01 cái cân để cân gà.

- 01 đồng hồ treo tường để theo dõi thời gian từng hồ gà.

- 02 miếng ván gỗ để ghi kèo các hồ gà.

- 04 giỏ đựng gà.

Đối với 04 xe máy các loại, gồm xe 76V3 - 9908 của Võ Đ, xe 76U1 - 03927 của Lê Văn N, xe 76X9 - 5866 của Trần Văn Q, xe 76P6 - 3204 của Trương Văn L; 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen,01 điện thoại di động hiệu mobell màu xanh đen, tiền ngân hàng Việt Nam 1.000.000đồng của Lâm Hoàng T; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, tiền ngân hàng Việt Nam 5.800.000đồng của Võ Văn T; 01 điện thoại di động hiệu Mobistar của Nguyễn Thành C.Các tài sản này không sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại cho các đối tượng nói trên là phù hợp, nên không xem xét.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY:

Tại phiên toà sơ thẩm các bị cáo Lê Văn N, Lâm Hoàng T, Trịnh T, Nguyễn C khai nhận: Đầu tháng 3/2017, Lê Văn N mở trường gà phía sau nhà ông Lê B thuộc tổ 25, phường Q, thành phố Q để thu tiền xâu của các con bạc, việc tổ chức đá gà vào các ngày thứ 6, thứ 7 và chủ nhật hàng tuần, N thu 10% tiền thắng bạc từ con bạc sau mỗi trận gà. Trịnh T là người làm thư ký tại trường gà để thu tiền xâu của người thắng bạc rồi tính toán và chia tiền xâu với N. Kể từ ngày 17/3/2017, vì đối tượng tham gia đánh bạc đông nên Lâm Hoàng T cùng T làm thư ký tại trường gà. Sau mỗi trận gà, N trích cho thư ký số tiền 30% tổng số tiền xâu thu được. Khoảng 08 giờ ngày 18/3/2017, N tổ chức đá gà để N và các con bạc tham gia cá cược tại hai vi gà thì bị đội Cảnh sát hình sự Công an thành phố Q phát hiện, bắt quả tang.

Theo kết luận điều tra, Lê Văn N ngoài việc cùng với Trịnh T và Lâm Hoàng T tổ chức cho các con bạc tham gia đánh bạc trong ngày 17 và ngày 18/3/2017 với tổng số tiền 113.780.000 đồng, đã thu được tiền xâu với số tiền là 6.320.000 đồng,N còn tham gia đánh bạc với số tiền tổng cộng là 5.250.000 đồng, Nguyễn C tham gia đánh bạc với số tiền tổng cộng là 5.800.000 đồng.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q truy tố Lê Văn N về tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc” theokhoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 248Bộ luật Hình sự; truy tố Trịnh T, Lâm Hoàng T về tội “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và truy tố Nguyễn C về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Tuy nhiên, đây là vụ án đồng phạm, mức độ, hành vi phạm tội của từng bị cáo là khác nhau:

Bị cáo Lê Văn N là người tìm địa điểm, mua các dụng cụ để tổ chức đá gà nhằm mục đích thu tiền xâu 10% trên số tiền của người thắng bạc, sau đó chia cho thư ký trường gà 30% trên số tiền 10% thu được, trong hai ngày 17 và 18/3/2017 bị cáo đã tổ chức cho các con bạc đánh bạc dưới hình thức đá gà với tổng số tiền 113.780.000 đồng, số tiền N thu lợi được sau khi đã chia cho Trịnh T và Lâm Hoàng T thư ký trường gà là 5.500.000 đồng (Số tiền này bị cáo N đã tự nguyện nộp).

Bị cáo Trịnh T là người làm thư ký trường gà ghi lại tỷ lệ cá cược giữa các con bạc để được N chia 30% trên số tiền 10% N thu được đối với người thắng bạc, trong hai ngày 17 và 18/3/2017 bị cáo đã ghi tỷ lệ cá cược cho 52 con bạc đánh bạc dưới hình thức đá gà với tổng số tiền 72.900.000 đồng, số tiền thu lợi Trịnh T được chia từ N là 700.000 đồng(Số tiền này bị cáo T đã tự nguyện nộp).

Bị cáo Lâm Hoàng T là người làm thư ký trường gà ghi lại tỷ lệ cá cược giữa các con bạc để được N chia 30% trên số tiền 10% N thu được đối với người thắng bạc, trong hai ngày 17 và 18/3/2017 bị cáo đã ghi tỷ lệ cá cược cho 38 con bạc đánh bạc dưới hình thức đá gà với tổng số tiền 40.880.000 đồng, số tiền thu lợi Lâm Hoàng T được chia từ N là 120.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn C là người tham gia đánh bạc dưới hình thức đá gà với tổng số tiền tham gia đánh bạc là 5.800.000 đồng(Số tiền này bị cáo C đã tự nguyện nộp).

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân dân đến các tệ nạn xã hội khác, cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm minhđể răn đe giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo bị cáo đềuthành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p Khoản 1 Điều 46; gia đình bị cáo Lê Văn N có công cách mạng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 46; bị cáo Nguyễn C phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụngtình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểmh Khoản 1Điều 46 của Bộ luật Hình sự. Đồng thời các bị cáo đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu nên không cần áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà xử phạt tiền cũng đủ răn đe, giáo các bị cáovà phòng ngừa chung.

Đối với các đối tượng Võ Văn T, Nguyễn Thành C, Võ Đ, Trương Văn L, Nguyễn Tấn N theo quy định tại Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì hành vi đánh bạc của từng người chưa đủ định lượng: 2.000.000đồng, chưa đủ cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 248 của Bộ luật hình sự nên Cơ quan điều tra đã đề nghị Chủ tịch UBND thành phố Q ra Quyết định xử lý hành chính đối với các đối tượng trên về hành vi “Đánh bạc trái phép” được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 28/12/2013 của Chính phủ và tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền dùng đánh bạc của các đối tượng trên theo quy định tại khoản 6 Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 28/12/2013 của Chính Phủ.

Đối với hành vi của Đặng Ngọc T, Lê Thanh T, Tống Đức T đã đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Đánh bạc” được quy định tại Điều 248 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, căn cứ Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật hình sự năm 2015 và áp dụng những quy định có lợi cho người phạm tội tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm b khoản 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc Hội nên không xử lý hình sự đối với Đặng Ngọc T, Lê Thanh T, Tống Đức T. Do đó, Cơ quan điều tra đã đề nghị Chủ tịch UBND thành phố Q ra Quyết định xử lý hành chính đối với các đối tượng trên về hành vi “Đánh bạc trái phép” được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 28/12/2013 của Chính phủ và tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền dùng đánh bạc của các đối tượng trên theo quy định tại khoản 6 Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 28/12/2013 của Chính Phủ.

Đối với ông Trần Văn Q đến trường gà để xem đá gà, không tham gia đánh bạc. Bà Trần Thị T là người bán nước, thức ăn, thuốc lá tại trường gà. Đối chiếu với tịch thu giữ xác định không thấy tên ông Trần Văn Q và bà Trần Thị T tham gia cá cược nên không có căn cứ xử lý những người này về hành vi đánh bạc.

Đối với các đối tượng khác có tên trong các tịch đã thu giữ, thư ký trường gà chỉ thấy mặt ghi tên, không biết rõ họ tên thật và địa chỉ, nên Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của những đối tượng này và không làm việc được.

Đối với ông Lê B, Cơ quan điều tra xác định ông B đã đi làm ăn xa, trước và tại thời điểm bắt quả tang thì khu vườn phía sau nhà ông để hoang, không có người trông coi. Vì vậy, không có cơ sở để xử lý ông B về tội Tổ chức đánh bạc được quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Đối với những đối tượng tham gia đánh bạc và những người có liên quan cơ quan điều tra xử lý như trên là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về xử lý vật và trách nhiệm dân sự:

Đối với số tiền thu lợi bất chính từ hành vi tổ chức đánh bạc tổng cộng là 6.320.000 đồng, trong đó bị cáo Trịnh T thu lợi 700.000 đồng, bị cáo Lê Văn N thu lợi 5.500.000 đồng và bị cáo Lâm Hoàng T thu lợi 120.000 đồng, buộc các bị cáo nộp để sung quỹ nhà nước. Tiếp tục tạm giữ số tiền 700.000 đồng của bị cáo Trịnh T để đảm bảo thi hành án.

Đối với số tiền 5.250.000 đồng bị cáo Lê Văn N dùng để đánh bạc và số tiền 5.800.000 đồng bị cáo Nguyễn C dùng để đánh bạc, buộc hai bị cáo nộp để sung quỹ nhà nước. Tiếp tục tạm giữc số tiền 5.250.000 đồng của bị cáo Lê Văn N và số tiền 5.800.000 đồng của bị cáo Nguyễn C để đảm bảo thi hành án.

Đối với 05 con gà đá cơ quan điều tra thu giữ, trong thời gian tạm giữ tất cả 5 con gà trên đã chết nên cơ quan điều tra tiêu hủy là phù hợp.

Đối với 04 chiếc xe máy, gồm: Xe 76V3-9908 của Võ Đ, xe 76U1-03927 của Lê Văn N, xe 76X9-5866 của Trần Văn Q, xe 76P6-3204 của Trương Văn L, 04 điện thoại, gồm: 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen của Nguyễn C, 01 điện thoại di động hiệu Mobell màu xanh đen của Lâm Hoàng T, 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen của Võ Văn T, 01 điện thoại di động hiệu Mobistar của Nguyễn Thành C và số tiền 1.000.000 đồng của Lâm Hoàng T, 5.800.000 đồng của Võ Văn T. Xét thấy các vật chứng trên không liên quan đến việc phạm tội nên cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu, chủ sở hữu không có yêu gì nên Hội đồng xét xử không xét.

Các vật chứng khác không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về phần hình phạt, vật chứng, dân sự là phù hợp với phân tích, đánh giá, nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố:

Bị cáo Lê Văn N phạm tội “Đánh bạc” và phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

Bị cáo Trịnh T và bị cáo Lâm Hoàng T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

Bị cáo Nguyễn C phạm tội “Đánh bạc”.

2. Áp dụng điểm khoản 1 Điều 248; điểmp khoản 1và khoản 2 Điều 46; Điều 30 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn N15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng về tội “Đánh bạc”.

Áp dụng điểm khoản 1 Điều 249; điểm p khoản 1và khoản 2 Điều 46;Điều 30của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn N 45.000.000 (Bốn mươi lăm triệu) đồng về tội “Tổ chức đánh bạc”.

Áp dụng Điều 50 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Lê Văn Nphải chịu hình phạt chung của hai tội là 60.000.000 (Sáu mươi triệu) đồng.

Áp dụng điểm khoản 1 Điều 249; điểmp khoản 1Điều 46; Điều 30 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáoTrịnh T 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng về tội “Tổ chức đánh bạc”.

Áp dụng điểm khoản 1 Điều 249; điểm p khoản 1Điều 46; Điều 30 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lâm Hoàng T 20.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng về tội “Tổ chức đánh bạc”.

Áp dụng điểm khoản 1 Điều 248; điểmh, p khoản 1Điều 46;Điều 30 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn C 10.000.000 (Mười triệu) đồng về tội “Đánh bạc”.

3. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 42 của Bộ luật hình sự, Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên buộc bị cáo Lê Văn N phải nộp tộng cộng 10.750.000(Mười triệu bảy trăm năm mươi ngàn)đồng, gồm: 5.500.000 đồng tiền thu lợi bất chính từ hành vi tổ chức đánh bạc và 5.250.000 đồng tiền dùng đánh bạc để sung quỹ nhà nước. Tiếp tục tạm giữ số tiền 5.500.000 đồng (Năm triệu năm trăm ngàn đồng) của bị cáo Lê Văn N theo biên lai thu tiền số: AA/2010/09759 ngày 07/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Q để đảm bảo thi hành án.

Tuyên buộc bị cáo Trịnh T phải nộp 700.000 (Bảy trăm ngàn) đồngtiền thu lợi bất chính từ hành vi tổ chức đánh bạc để sung quỹ nhà nước. Tiếp tục tạm giữ số tiền 700.000 (Bảy trăm ngàn) đồngcủa bị cáo Trịnh T theo biên lai thu tiền số: AA/2010/09759 ngày 07/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Q để đảm bảo thi hành án.

Tuyên buộc bị cáo Lâm Hoàng T phải nộp 120.000 (Một trăm hai mươi ngàn) đồng tiền thu lợi bất chính từ hành vi tổ chức đánh bạc để sung quỹ nhà nước.

Tuyên buộc bị cáo Nguyễn C phải nộp 5.800.000 (Năm triệu tám trăm ngàn) đồng tiền dùng đánh bạc để sung quỹ nhà nước. Tiếp tục tạm giữ số tiền 5.800.000 (Năm triệu tám trăm ngàn) đồngcủa bị cáo Nguyễn Có theo biên lai thu tiền số: AA/2010/09759 ngày 07/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Q để đảm bảo thi hành án.

Tuyên tịch thu, tiêu hủy các vật chứng gồm:

- 02 (Hai) cái vi gà bằng xốp màu đen.

- 01 (Một) cuộn chỉ màu đen, 01 (Một) cuộn chỉ màu xanh.

-01 (Một) cuộn băng keo đen.

-10 (Mười) cái khăn màu trắng.

-05 (Năm) miếng dao lam.

- 01 (Một) cái cân để cân gà.

-01 (Một) đồng hồ treo tường.

- 02 (Hai) miếng ván gỗ.

-04 (Bốn) giỏ đựng gà.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 11.750.000 đồng (Mười một triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số: AA/2010/09759 ngày 07/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Q để đảm bảo thi hành án.

Tất cả các vật chứng nêu trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản 07/12/2017 giữa Công an thành phố Q với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Q.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Lê Văn N, bị cáo Trịnh T, bị cáo Lâm Hoàng T, bị cáo Nguyễn C, mỗi bị cáo phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Người có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ