vanban.org

Bản án 82/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 17/07/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đào Duy T phạm Tội cố ý làm hƣ hỏng tài sản.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng Hình sự: Trả lại cho bị cáo Đào Duy T chiếc điện thoại di động Nokia Q630.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đào Duy T phạm Tội cố ý làm hƣ hỏng tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 82/2017/HSST
Ngày: 17.7.2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tử Lƣợng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Ngọc Lợi

2. Bà Đồng Thị Thanh Hƣơng

Thư ký phiên toà: Bà Giang Thị Thúy Thu – Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Mai Việt Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 78/2017/HSST ngày 19 tháng 5 năm 2017 đối với bị cáo:

Đào Duy T sinh năm: 1990, tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Phố A, phƣờng N, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; con ông Đào Văn K và bà Vũ Thị T; có vợ là Nguyễn Thị Thảo N và có 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Chƣa có; bị cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 24.02.2017 cho đến nay. (có mặt)

Nguyên đơn dân sự: Công ty trách nhiệm hữu hạn H; địa chỉ: Số H, đƣờng V, phƣờng B, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình; Ngƣời đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Ngọc T – Tổng giám đốc; Ngƣời đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Văn L – Nhân viên lái xe; địa chỉ: Thôn Y, xã G, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Văn L sinh năm 1974; nơi cƣ trú: Thôn Y, xã G, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)

- Anh Lê Ngọc N sinh năm 1979; nơi cƣ trú: Thôn L, xã S, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)

- Anh Hoàng Văn D sinh năm 1975; nơi cƣ trú: Thôn K, xã X, huyện L, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

- Anh Hoàng Văn P sinh năm 1988; nơi cƣ trú: Thôn N, xã X, huyện L, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

- Anh Nguyễn Tất Đ sinh năm 1989; nơi cƣ trú: Phố P, phƣờng N, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

NHẬN THẤY:

Bị cáo Đào Duy T bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau:

Đào Duy T là em họ của Nguyễn Tất Đ. Đ có mối quan hệ quen biết anh Hoàng Văn P, trú tại: Thôn N, xã X, huyện L, tỉnh Ninh Bình. Khoảng đầu tháng 01 năm 2017, Đ nhận đƣợc điện thoại của P nhờ đi đòi nợ hộ cho chú của P là ông Hoàng Văn D, trú tại thôn K, xã X, huyện L, tỉnh Ninh Bình, Đ đồng ý. Sau đó, P đến nhà Đ, lúc này T cũng có mặt ở đó, P nói “Có ngƣời nợ chú D 60.000.000 đồng, bạn xem đi lấy hộ tớ”. Đ bảo P cho số điện thoại và biển số xe để Đ đi đòi hộ, P đã cho Đ số điện thoại 0982.606.074 và biển số xe ô tô 35C- 061.60 để liên hệ đòi tiền anh Nguyễn Văn L, trú tại xã G, huyện C, tỉnh Thanh Hoá. Anh L là lái xe của Công ty TNHH H, có trụ sở tại phƣờng B, thành phố Ninh Bình. Công ty TNHH H giao xe ô tô tải nhãn hiệu DONG FENG biển kiểm soát 35C-06160 cho anh L lái và quản lý.

Sau khi đƣợc P cung cấp số điện thoại của anh L, Đ đã nhắn tin hỏi anh L về việc nợ tiền anh D nhƣng anh L không trả lời. Khoảng 05 giờ ngày 09/01/2017, P gọi điện thoại cho Đ nói là “Xe của ông L đang ở gần cầu V, bạn xuống xem thế nào”, sau đó Đ gọi điện thoại cho T đến đón Đ đi đòi nợ. T sử dụng xe môtô biển kiểm soát 35N1-8112 chở Đ đi tìm xe ôtô biển kiểm soát 35C-061.60, trên đƣờng đi T có hỏi Đ “Tìm thấy xe thì làm gì”, Đ nói “Cứ từ từ để anh tính”. Khi đến khu vực bãi than thuộc phố A, phƣờng N, thành phố Ninh Bình, Đ dặn T đứng đợi ở ngoài, để Đ vào trong bãi lôi chủ xe ra ngoài nói chuyện xem ý nó thế nào, xe cộ trong đây không được đập phá gì, còn xe ôtô thích thì ra ngoài tao cho hòn gạch là xong, sau đó Đ đi vào bên trong bãi than, T đứng ngoài cổng. Trong bãi than, Đ gặp anh Lê Ngọc N, trú tại thôn L, xã S, huyện C, tỉnh Thanh Hoá là lái xe thuê cho anh L (do sức khoẻ không tốt nên anh L đã thuê anh N lái xe ôtô biển kiểm soát 35C-06160). Đ hỏi anh N có phải là chủ xe ôtô biển kiểm soát 35C-06160 không, anh N trả lời “Vâng”, Đ bảo anh N đi ra ngoài nhờ tí, Đ dùng tay phải bá vai anh N đi ra ngoài đƣờng Quốc lộ 1A. Sau khi ra ngoài, Đ đứng trên vỉa hè và nói “Mày có định trả tiền không” thì anh N nói “Em chỉ là lái xe thuê”; thấy vậy, Đ dùng cả 02 tay tát mấy cái vào mặt anh N, anh N bảo “Để em gọi điện về cho chủ xe” rồi anh N gọi điện cho anh L kể sự việc và đƣa điện thoại cho Đ nói chuyện với anh L, Đ hỏi anh L “Có định trả tiền không” thì anh L hẹn ba hôm nữa sẽ trả. Cùng lúc đó, T đứng cách đầu xe ôtô biển kiểm soát 35C-061.60 khoảng 04m thấy Đ đánh anh N, T nghĩ Đ không đòi đƣợc nợ nên T đã nhặt 04 cục đá ngay dƣới chân và lần lƣợt dùng tay phải ném 04 lần vào tấm kính trƣớc của xe ôtô biển kiểm soát 35C-06160 làm vỡ kính. Lúc này, Đ tiếp tục dùng hai tay tát, đấm vào mặt anh N và dùng 02 chân đạp vào bụng anh N. Ngay sau khi ném vỡ kính trƣớc ôtô biển kiểm soát 35C-06160, T đi xe mô tô đến chỗ Đ và cùng đánh anh N.

Sau khi sự việc xảy ra, anh N đã báo lại cho anh Nguyễn Văn L biết. Anh L đã làm đơn trình báo Công an thành phố Ninh Bình về hành vi cố ý làm hƣ hỏng tài sản của Đào Duy T.

Ngày 11/01/2017 Cơ quan CSĐT Công an thành phố Ninh Bình ra quyết định trƣng cầu định giá tài sản là chiếc kính chắn gió trƣớc xe ô tô nhãn hiệu DONGFENG, biển kiểm soát 35C-061.60.

Tại Kết luận định giá tài sản số 03 ngày 12/01/2017 Hội đồng định giá tài sản kết luận: Kính chắn gió trƣớc xe ô tô nhãn hiệu DONGFENG có giá trị là 3.200.000 đồng.

Quá trình điều tra Đào Duy T đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình nhƣ đã nêu trên.

Đối với Nguyễn Tất Đ là ngƣời đƣợc anh Hoàng Văn P nhờ đi đòi nợ giúp. Khi đi đòi nợ, Đ rủ T cùng đi. Trên đƣờng đi, Đ có dặn T không đƣợc đập phá xe trong bãi, khi xe ra ngoài thích thì Đ ném gạch đá vào xe; việc T dùng đá ném vỡ kính xe ôtô biển kiểm soát 35C-061.60 trong bãi xe là ngoài ý muốn của Đ; vì vậy, Đ không phải là đồng phạm trong vụ án, không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với Đ. Đ đã có hình vi đánh anh Lê Ngọc N, do thƣơng tích nhẹ anh N không đề nghị giám định tỷ lệ tổn hại phần trăm sức khoẻ và không yêu cầu bồi thƣờng; vì vậy, không đủ căn cứ xử lý Đ về tội “Cố ý gây thƣơng tích”. Công an thành phố Ninh Bình đã xử phạt hành chính Nguyễn Tất Đ 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khoẻ ngƣời khác.

Đối với hành vi Đ nhắn tin, gọi điện đe dọa yêu cầu anh L phải trả tiền cho anh D, việc đe dọa không quyết liệt và Đ không có ý thức chiếm đoạt tài sản của anh L nên không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với Đ về hành vi cƣỡng đoạt tài sản.

Đối với anh Hoàng Văn D, anh Hoàng Văn P: Anh D có nói chuyện với anh P về việc anh Nguyễn Văn L nợ số tiền 60.000.000đ đến hẹn không trả. Anh D không nhờ P đòi nợ nhƣng do có quen biết Đ, P đã nói chuyện và nhờ Đ tìm anh L để đòi nợ cho anh D. Ngày 09/01/2017, biết chiếc xe ôtô biển kiểm soát 35C-061.60 đang ở thành phố Ninh Bình, P đã cung cấp tài khoản và mật khẩu phần mềm định vị xe để Đ tìm anh L. P không không biết việc Đ rủ T đi tìm anh L để đòi nợ, không biết việc T dùng đá ném vỡ kính chắn gió trƣớc của xe ôtô tải biển kiểm soát 35C-061.60. Vì vậy, không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với Hoàng Văn D và Hoàng Văn P.

Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Longcin màu nâu, đeo biển kiểm soát 35N1-8112, số khung: 00200453, số máy:00595261 mà Cơ quan điều tra đã thu giữ của T, quá trình điều tra xác định: chiếc biển kiểm soát 35N1-8112 là biển kiểm soát của chiếc xe môtô nhãn hiệu CPI, số khung: 12742, số máy: 002742 đăng ký mang tên anh Mai Văn H sinh năm 1976, trú tại xóm Z, xã Y, huyện M, tỉnh Ninh Bình, năm 2005 anh H đã bán chiếc xe môtô trên cho một ngƣời đàn ông không quen biết tại khu vực thị trấn Y, huyện M, tỉnh Ninh Bình. Chiếc xe môtô nhãn hiệu Longcin số khung: 00200453, số máy: 00595261, đăng kí xe mang tên Trần Thị T trú tại tổ C, phƣờng S, thành phố T xe mang nhãn hiệu Woldwide, biển kiểm soát 35F2-8240. Xác minh tại công an phƣờng S, thành phố T không có ngƣời tên Trần Thị T có địa chỉ nhƣ trên. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Ninh Bình tách phần tài liệu liên quan đến chiếc xe môtô nhãn hiệu Longcin, đeo biển kiểm soát 35N1-8112, số khung: 00200453, số máy: 00595261 để tiếp tục điều tra, làm rõ.

Đối với chiếc kính trƣớc xe ôtô tải biển kiểm soát 35C-061.60 của Công ty trách nhiệm hữu hạn H đã bị Đào Duy T ném vỡ, anh Nguyễn Văn L là đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH H không yêu cầu T phải bồi thƣờng.

Đối với 01 chiếc điện thoại Nokia Q630 T dùng để liên lạc với Đ khi đi đòi nợ và 04 viên đá mà T sử dụng ném vỡ kính ôtô tải biển kiểm soát 35C-061.60 mà Cơ quan điều tra đã thu giữ, đƣợc chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình để giải quyết cùng vụ án.

Tại Bản cáo trạng số 79/CT-VKS ngày 19.5.2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố Đào Duy T ra trƣớc Toà án nhân thành phố Ninh Bình để xét xử về Tội cố ý làm hƣ hỏng tài sản, theo khoản 1 Điều 143 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố nhƣ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Đào Duy T phạm Tội cố ý làm hƣ hỏng tài sản.

- Áp dụng khoản 1 Điều 143, điểm h, p khoản 1 Điều 46, Điều 60 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đào Duy T từ 6 - 9 tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 12 - 18 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Đào Duy T cho Uỷ ban nhân dân phƣờng N, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phƣơng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

- Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng Hình sự:

+ Trả lại cho bị cáo Đào Duy T chiếc điện thoại di động Nokia Q630.

+ Tịch thu tiêu hủy 04 viên đá mà T đã sử dụng ném vỡ kính ôtô biển kiểm soát 35C-061.60.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi ném vỡ kính xe ô tô biển kiểm soát 35C-061.60 đúng nhƣ nội dung của bản cáo trạng đã nêu ở trên; bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì, chỉ xin HĐXX cho bị cáo đƣợc hƣởng mức án nhẹ nhất.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY:

Lời khai tại phiên toà của bị cáo Đào Duy T đúng nhƣ nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên, đủ căn cứ kết luận: Khoảng 05 giờ ngày 09/01/2017, tại bãi than thuộc phố A, phƣờng N, thành phố Ninh Bình, Đào Duy T đã cố ý dùng đá ném vỡ tấm kính chắn gió phía trƣớc xe ô tô tải nhãn hiệu DongFeng, biển kiểm soát 35C-061.60 của Công ty TNHH H, giá trị thiệt hại của tài sản là 3.200.000 đồng.

Hành vi của bị cáo xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của ngƣời khác đƣợc pháp luật công nhận, bảo vệ. Bị cáo là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhƣng vẫn cố ý thực hiện.

Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự thấy hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại bản cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội bị cáo nhƣ Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ. Hành vi của bị cáo Đào Duy T đã phạm Tội cố ý làm hƣ hỏng tài sản, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 143 của Bộ luật Hình sự.

Ngoài việc xâm hại đến tài sản của ngƣời khác, hành vi của bị cáo còn gây mất an ninh trật tự, ảnh hƣởng xấu đến đời sống xã hội. Để bảo đảm trật tự xã hội, có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung thì việc truy tố, đƣa ra xét xử và buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là cần thiết.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo; vì vậy, đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt.

Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo Đào Duy T một mức hình phạt thoả đáng, tƣơng xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy không cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hôi mà cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo, với một thời gian thử thách dƣới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phƣơng nơi bị cáo cƣ trú và gia đình.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đối với chiếc điện thoại di động Nokia Q630 là phƣơng tiện liên lạc của bị cáo, không có liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại này. Đối với 04 viên đá T sử dụng ném vỡ kính ôtô tải biển kiểm soát 35C-061.60 không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Anh Nguyễn Văn L là ngƣời đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH H không yêu cầu bị cáo phải bồi thƣờng thiệt hại đối với chiếc kính chắn gió xe ôtô tải biển kiểm soát 35C-061.60 bị vỡ; vì vậy, phần trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo Đào Duy T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội.

Bị cáo, nguyên đơn dân sự, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đào Duy T phạm Tội cố ý làm hƣ hỏng tài sản.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 143; điểm h, p khoản 1 Điều 46; khoản 1, khoản 2 Điều 60 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đào Duy T 6 (sáu) tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Đào Duy T cho Ủy ban nhân dân phƣờng N, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì việc giám sát, giáo dục thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án Hình sự. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phƣơng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng Hình sự:

- Trả lại cho bị cáo Đào Duy T chiếc điện thoại di động Nokia Q630.

- Tịch thu tiêu hủy 04 viên đá mà bị cáo T đã sử dụng ném vỡ kính xe ôtô biển kiểm soát 35C-061.60.

(Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02.6.2017 giữa Cơ quan CSĐT công an thành phố Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình)

4. Về án phí: Căn cứ điều 99 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội, buộc bị cáo Đào Duy T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo, nguyên đơn dân sự, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày. Thời hạn kháng cáo của ngƣời có mặt tại phiên toà tính từ ngày tuyên án (17.7.2017), thời hạn kháng cáo của ngƣời vắng mặt tại phiên toà tính từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

- Nguyên đơn dân sự; (vắng mặt)

- Người CQLNVLQ; (vắng mặt)

- VKSND TP.Ninh Bình;

- TAND tỉnh Ninh Bình;

- Công an TP.Ninh Bình;

- Chi cục THADS TP.Ninh Bình;

- Sở tư pháp Ninh Bình;

Nguyễn Tử Lượng

- Lưu HS, VPTA.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ NINH BÌNH

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

TỈNH NINH BÌNH

Ninh Bình, ngày 17 tháng 7 năm 2017

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tử Lƣợng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Lợi và bà Đồng Thị Thanh Hƣơng

Căn cứ vào Điều 199 và Điều 222 của Bộ luật tố tụng Hình sự;

Vào hồi 8 giờ 30 ngày 17 tháng 7 năm 2017, tại phòng nghị án Hội đồng xét xử sơ thẩm tiến hành nghị án đối với vụ án hình sự thụ lý số: 78/2017/HSST, ngày 19 tháng 5 năm 2017 đối với bị cáo Đào Duy T.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, Bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác tại phiên toà; Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án và thống nhất nhƣ sau:

1. Về tội danh: Bị cáo Đào Duy T phạm Tội cố ý làm hƣ hỏng tài sản; kết quả biểu quyết: 3/3.

2. Về điều luật áp dụng:

- Áp dụng khoản 1 Điều 143; điểm h, p khoản 1 Điều 46; khoản 1, khoản 2 Điều 60 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo.

- Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 76, Điều 99 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội để quyết định các vấn đề khác; kết quả biểu quyết: 3/3.

3. Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Đào Duy T 6 (sáu) tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Đào Duy T cho Ủy ban nhân dân phƣờng N, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì việc giám sát, giáo dục thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án Hình sự. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phƣơng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo; kết quả biểu quyết: 3/3.

4. Về các vấn đề khác:

- Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

+ Đối với chiếc điện thoại di động Nokia Q630 là phƣơng tiện liên lạc của bị cáo, không có liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại này.

+ Đối với 04 viên đá Tùng sử dụng ném vỡ kính ôtô tải biển kiểm soát 35C-061.60 không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

+ Anh Nguyễn Văn L là đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH H không yêu cầu bị cáo phải bồi thƣờng thiệt hại đối với chiếc kính chắn gió xe ôtô tải biển kiểm soát 35C-061.60 bị vỡ; vì vậy, phần trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đào Duy T phải nộp 200.000 đồng.

- Bị cáo, nguyên đơn dân sự, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Kết quả biểu quyết các vấn đề khác: 3/3. HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ NINH BÌNH

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

TỈNH NINH BÌNH

-----------------------------

------------------

Số: 05/ TBKQXX

Ninh Bình, ngày 29 tháng 01 năm 2015

THÔNG BÁO KẾT QUẢ XÉT XỬ

Kính gửi: UBND phường Ninh Khánh

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 05 /2015/HSST ngày 28.01.2015, đối với bị cáo Bùi Danh Hoà sinh ngày: 13.8.1997, tại Ninh Bình; nơi ĐKHKTT: thôn Đề Lộc, xã Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình; chỗ ở: phố Bình Khang, phƣờng Ninh Khánh, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hoá: 10/12; con ông Bùi Danh Đại và bà Hoàng Thị Tƣơi.

Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình:

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Danh Hoà phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Áp dụng khoản 1 điều 138; điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 điều 46 và các điều 69, 74, 60 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Danh Hoà 6 (sáu) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Bùi Danh Hoà cho Uỷ ban nhân dân phƣờng Ninh Khánh, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phƣơng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH Nơi nhận:

- Nhƣ trên;

- Lƣu hồ sơ.

Cỡ chữ