vanban.org

Bản án 819/2020/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 02/11/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 02/11/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức L; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 128 ngày 23/7/2020 của Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hà Nội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 11 Luật giao thông đường bộ; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 819/2020/HS-PT
Ngày 02/11/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Phong;

Thẩm phán: Ông Mai Văn Quang và ông Hoàng Văn Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tiệp Anh, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Minh Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 02/11/2020, tại Tòa án thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 713 ngày 01/10/2020; Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức L và bị đơn dân sự là Tổng Công ty vận tải H; Đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 128 ngày 23/7/2020 của Tòa án nhân dân Quận B, thành phố Hà Nội.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Đức L, sinh năm 1975; Nơi KHKTT: Số A, Trần Q, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội; Trú tại: Số B, Thái Hà, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội; Gới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức và con bà Đỗ Thị B, sinh năm 1949; Tiền án, tiền sự: Không; Không bị tạm giữ, tạm giam (Có mặt).

- Bị đơn dân sự có kháng cáo:

Tổng Công ty vận tải H; Địa chỉ: Lê T, phường P, quận H, thành phố Hà Nội; Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn H, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên; Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Đ, chức vụ: Giám đốc (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Dương Hữu Đ và ông Nguyễn Huy A, đều là Luật sư Văn phòng luật sư H, thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội (Đều có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn dân sự: Bà Mai Thị T, Luật sư Văn phòng luật sư N, thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội (Có mặt).

- Những người tham gia tố tụng không kháng cáo, không bị kháng nghị:

+ Người bị hại: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1984; Nơi ĐKHKTT: Khu tập thể U, phường C, quận B, thành phố Hà Nội;

Đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Nguyễn Trịnh B, sinh năm 1957; (Là bố đẻ anh T) Nơi ĐKHKTT: Khu tập thể U, phường C, quận B, thành phố Hà Nội;

Đại diện theo uỷ quyền của ông B: Bà Phan Thị K, Luật sư Văn phòng luật sư A, thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội (Có mặt).

+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Tổng Công ty cổ phần B; Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Trọng D; Địa chỉ: Toà nhà G, quận Đ, thành phố Hà Nội.

+ Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn V, Nhân viên phụ xe Tổng Công ty vận tải H (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Đức L có giấy phép lái xe theo quy định; Bị cáo ký hợp đồng lái xe dài hạn với xí nghiệp xe B. Khoảng 12 giờ ngày 26/9/2019, bị cáo điều khiển xe Buýt biển kiểm soát 29B1-151... lưu thông trên đường Nguyễn Chí T chiều từ Nguyễn Công H đi K Khi đến khu vực ngã tư Nguyễn Chí T - K là khu vực có biển báo công trường, cảnh báo đi chậm, có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ; Bị cáo điều khiển xe chuyển hướng rẽ trái vào đường K. Do thiếu chú ý quan sát nên đã không nhìn thấy anh Nguyễn Minh T đang đi bộ qua đường trên phần gạch kẻ cho người đi bộ theo hướng từ phải sang trái (Theo chiều xe chạy) do không giảm tốc độ, không nhường đường cho người đi bộ, nên đầu xe đã va chạm vào người bị hại là anh Nguyễn Minh T làm anh T ngã đập đầu xuống đường bất tỉnh, chấn thương sọ lão, sống thực vật, tổn thương cơ thể 100%.

Kết luận giám định pháp y thương tích số: 970/TTPY ngày 30/10/2019 của Trung tâm pháp y Hà Nội kết luận: Chấn thương sọ não (Tổn thương nhu mô não, xuất huyết lan tỏa bán cầu não hai bên). Hiện bệnh nhân đang trong tình trạng hôn mê, đời sống thực vật, nguy cơ tử vong cao. Tỷ lệ tổn hại sức khỏe 100%.

Đại diện hợp pháp của người bị hại yêu cầu Tổng Công ty vận tải H bồi thường cho người bị hại tổng số tiền là 1.788.136.271đ. Bị cáo đã bồi thường cho người bị hại 200 triệu đồng nên Tổng Công ty vận tải H còn phải bồi thường cho người bị hại 1.588.136.271đ.

Đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Xí nghiệp xe buýt có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bản cáo trạng số: 92/CT-VKS ngày 25/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ " theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 128 ngày 23/7/2020 của Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hà Nội quyết định:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ".

- Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 260, Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38, Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự; Khoản 23 Điều 8, khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Các điều 585, 590, 597 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số: 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Trách nhiệm dân sự: Chấp nhận yêu cầu bồi thường của người đại diện hợp pháp cho người bị hại. Buộc Tổng Công ty vận tải H phải bồi thường cho người bị hại số tiền 1.588.136.271đ.

- Dành quyền khởi kiện cho Tổng Công ty vận tải H bằng một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Tổng Công ty vận tải H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 59.644.850đ.

Ngoài ra Bản án còn quyết định xử lý vật chứng, quyền yêu cầu thi hành án, lãi suất chậm thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 24/7/2020 bị cáo có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Ngày 04/8/2020 bị đơn dân sự kháng cáo giảm mức bồi thường và tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm:

- Bị cáo khai nhận bị cáo có gây ra tai nạn như Bản án sơ thẩm đã nêu là đúng. Ngoài những tình tiết giảm nhẹ được cấp sơ thẩm xem xét; Bị cáo còn trình bày: Gia đình bị cáo có công với cách mạng, mẹ bị cáo được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất, có ông nội và ông ngoại đều là liệt sỹ. Bị cáo xin được hưởng án treo.

- Bị đơn dân sự là Tổng Công ty vận tải H đã thỏa thuận về việc bồi thường đối với người đại diện hợp pháp của người bị hại. Bị đơn dân sự xin thay đổi kháng cáo là không đề nghị tăng bồi thường. Tổng Công ty vận tải H và đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm xem xét về việc bồi thường thiệt hại mà đề nghị Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận là Tổng Công ty vận tải H đã bồi thường cho người bị hại tổng số tiền là 01 tỷ đồng; Mọi chi phí, thiệt hại liên quan đến di chứng và thương tích của người bị hại, do bị hại và gia đình tự chịu trách nhiệm, không có quyền yêu cầu bị cáo và Công ty phải bồi thường bất cứ khoản nào khác; Đồng thời đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.

- Luật sư Nguyễn H đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo, Luật sư Dương Hữu Đ đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

+ Bị cáo nộp đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

+ Đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo; Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 128 ngày 23/7/2020 của Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hà Nội.

+ Tuyên bố bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 6 đến 7 tháng tù. Ghi nhận sự thoả thuận về dân sự giữa đại diện hợp pháp của người bị hại và Tổng Công ty vận tải H.

Bị cáo không tranh luận mà chỉ xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo, bị đơn dân sự đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 12 giờ ngày 26/9/2019, bị cáo Nguyễn Đức L điều khiển xe buýt biển kiểm soát 29B1-151... lưu thông trên đường Nguyễn Chí T chiều từ Nguyễn C đi K. Khi đến khu vực ngã tư Nguyễn Chí T - K là khu vực có biển báo công trường, cảnh báo đi chậm, có vạch kẻ đường dành người đi bộ; Bị cáo điều khiển xe chuyển hướng rẽ trái vào đường K. Do thiếu chú ý quan sát, nên đã không nhìn thấy anh Nguyễn Minh T đang đi bộ qua đường trên phần gạch kẻ cho người đi bộ theo hướng từ phải sang trái (Theo chiều xe chạy) do không giảm tốc độ, không nhường đường cho người đi bộ nên đầu xe đã va chạm vào anh T làm anh T ngã đập đầu xuống đường bất tỉnh, chấn thương sọ lão, sống thực vật, tổn thương cơ thể 100%.

Với hành vi trên án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo kháng cáo và nộp bổ sung tài liệu là bản sao là Huy chương kháng chiến của mẹ đẻ và bản Tổ quốc ghi công của hai liệt sỹ là ông Nội và ông ngoại bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm. Xét thấy trước lần phạm tội này bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; Đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Tại phiên toà phúc thẩm đại diện theo uỷ quyền của người bị hại đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo; Bị đơn dân sự là Tổng Công ty xe khách H đã thoả thuận bồi thường toàn bộ về trách nhiệm dân sự cho người bị hại; Bị cáo có nơi thường trú cụ thể rõ ràng. Xét thấy bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 02 ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo. Xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo tại địa phương, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Tổng Công ty vận tải H, đại diện hợp pháp và người được uỷ quyền của người bị hại không yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm xem xét về việc bồi thường thiệt hại mà đề nghị Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận là Tổng Công ty vận tải H đã bồi thường cho người bị hại tổng số tiền là 01 tỷ đồng; Mọi chi phí, thiệt hại liên quan đến di chứng và thương tích của người bị hại, do bị hại và gia đình tự chịu trách nhiệm, không có quyền yêu cầu bị cáo và Công ty phải bồi thường bất cứ khoản nào khác. Sự thoả thuận trên là tự nguyện và đúng pháp luật, nên được ghi nhận.

Các đương sự đã tự thoả thuận về trách nhiệm dân sự trước phiên toà và chỉ đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.

Các quyết định của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự:

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức L;

2. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 128 ngày 23/7/2020 của Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hà Nội.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 260, Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 65 Bộ luật hình sự; Khoản 23 Điều 8, khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ; Nghị quyết số: 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án xử phạt bị cáo:

Nguyễn Đức L 12 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo cho UBND phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của Bản án trước và tổng hợp với hình phạt của Bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Ghi nhận sự thỏa thuận giữa Tổng Công ty vận tải H và đại diện hợp pháp, đại diện theo uỷ quyền của người bị hại là: Tổng Công ty vận tải H đã bồi thường cho người bị hại tổng số tiền là 01 tỷ đồng; Mọi chi phí, thiệt hại liên quan đến di chứng và thương tích của người bị hại, do bị hại và người đại diện tự chịu trách nhiệm, không có quyền yêu cầu bị cáo và Công ty phải bồi thường bất cứ khoản nào khác.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị đơn dân sự không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.

2. Các quyết định của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ