vanban.org

Bản án 819/2018/HN-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/09/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

84, Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014,

ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Không chấp nhận kháng cáo của bà Đoàn Thị Thu H; Giữ nguyên án sơ Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đoàn Thị Thu H-Nguyễn L"
  • Tòa quyết gì? 84, Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014,
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

─────────────
Bản án số: 819/2018/HN-PT
Ngày: 06/9/2018.
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Phan Thị Minh Nguyệt.

Các Thẩm phán: 1/ Bà Trần Thị Nhung.

2/ Ông Nguyễn Văn Hậu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hiển – Thư ký Tòa án nhân dân Thành

phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Lê Thị

Ngọc Trang – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 28 tháng 8 và ngày 06 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án

nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ

lý số 56/2018/TLPT-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn”

Do bản án dân sự sơ thẩm số 523/2018/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 4 năm

2018 của Tòa án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3587/2018/QĐ-PT ngày 13 tháng 8

năm 2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Thu H, sinh năm 1982.

Thường trú: Thôn A, xã N, huyện H, tỉnh Đ.

Tạm trú: 391/TK43/25 T, phường K, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Dương Thị

T- Luật sư Văn phòng luật sư Dương Tới Đ thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ

Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn L, sinh năm 1964.

Thường trú: Thôn A, xã N, huyện H, tỉnh Đ.

Tạm trú: 689/7/2 A, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn

Văn Q- Luật sư Văn phòng luật sư B thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí

Minh.

(Đều có mặt).

3. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Đoàn Thị Thu H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20/11/2017 và các lời khai trong quá trình giải

quyết vụ án, nguyên đơn bà Đoàn Thị Thu H trình bày:

Bà và ông Nguyễn L tự nguyện kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số

06 quyển số 01/2005 do Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Đ cấp ngày 13/01/2005. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng bà sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, về việc nuôi dạy con, ông L thường xuyên nhậu nhẹt bên ngoài, có hành vi chửi mắng đánh đập con cái. Bà và ông L sống ly thân từ tháng 7/2017 cho đến nay. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn L.

Con chung: Quá trình chung sống, bà và ông L có 02 con chung tên:

Nguyễn Đoàn Nguyên Đ sinh ngày 24/10/2005 và Nguyễn Đoàn Khánh Đ, sinh ngày 23/9/2013. Hiện nay cháu Nguyên Đ đang ở với bà, cháu Khánh Đ đang ở với ông L. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Khánh Đ, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con. Còn cháu Nguyên Đ trường hợp cháu có nguyện vọng khác thì bà sẽ tôn trọng quyền lựa chọn của con, nếu không bà có nguyện vọng nuôi 02 con vì bà có đủ tài chính, thời gian để chăm sóc hai con và mua bảo hiểm cho hai con đến năm 18 tuổi. Bà H cho biết hiện nay bà làm nghề kinh doanh dịch vụ căn hộ 01 tháng thu nhập khoảng hơn 20 triệu đồng, không gò bó về thời gian, hai con ở với bà sẽ được chăm sóc và phát triển tốt hơn.

Tài sản chung và nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Nguyễn L trình bày: Ông xác nhận thời gian chung sống, con

chung, tài sản chung, nợ chung đúng như bà Đoàn Thị Thu H trình bày trên. Còn về nguyên nhân mâu thuẫn ông chỉ thừa nhận mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, còn lại bà H trình bày không đúng. Ông cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Đoàn Thị Thu H.

Con chung: Quá trình chung sống, ông và bà H có 02 con chung tên:

Nguyễn Đoàn Nguyên Đ sinh ngày 24/10/2005 và Nguyễn Đoàn Khánh Đ, sinh ngày 23/9/2013. Ông có nguyện vọng trực tiếp nuôi cháu Khánh Đ, sinh ngày 23/9/2013. Còn cháu Nguyên Đ thì tùy theo nguyện vọng của con muốn ở với ai thì ông tôn trọng ý kiến của con.

Hiện nay ông làm nghề nhân viên kinh doanh của Công ty TNHH Thạch

L, 01 tháng thu nhập khoảng 13 triệu đồng. Thời gian làm từ 8 giờ sáng đến 17h chiều nên ông cũng thu xếp được thời gian đưa đón con đi học, nuôi dạy con tốt hơn.

Tài sản chung, nợ chung: Không có.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 523/2018/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 4 năm

2018 của Tòa án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của bà Đoàn Thị Thu H.

1/ Quan hệ hôn nhận: Bà Đoàn Thị Thu H và ông Nguyễn L thuận tình ly

hôn.

2/ Con chung: Giao cháu Nguyễn Đoàn Nguyên Đ, sinh ngày 24/10/2005

cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận bà H không yêu cầu ông Nguyễn L cấp

dưỡng nuôi con.

Giao cháu Nguyễn Đoàn Khánh Đ, sinh ngày 23/9/2013 cho ông Nguyễn

L trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận ông L không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi

con.

3/ Tài sản chung và nợ chung: Bà Đoàn Thị Thu H và ông Nguyễn L khai

không có nên Tòa án không xét.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và nghĩa vụ

thi hành án của các đương sự theo qui định của pháp luật.

Ngày 11/5/2018, Tòa án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh ban

hành Quyết định sửa chữa bổ sung bản án số 38/2018/QĐ-SCBSBA.

Ngày 23/4/2018, bà Đoàn Thị Thu H kháng cáo một phần bản án số

523/2018/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 4 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận B,

Thành phố Hồ Chí Minh với nội dung: Tòa án giao trẻ Nguyễn Đoàn Khánh Đ,

sinh ngày 23/9/2013 cho ông Nguyễn L trực tiếp nuôi dưỡng là không đúng, vì:

Thời gian làm việc của ông Nguyễn L làm giờ hành chính từ 8 giờ đến 17h và

đón con về trễ. Ông L đang trực tiếp nuôi mẹ già đang bị bệnh. Ông L thường

xuyên tiệc tùng, bạn bè nhậu nhẹt thì dẫn con theo và cho con ngồi bên cạnh để

chơi điện thoại. Bà cho rằng việc ông L trực tiếp nuôi trẻ Khánh Đ là không

đúng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển và hình thành nhân cách sau

này của trẻ. Do đó, bà đề nghị sửa án sơ thẩm, giao trẻ Nguyễn Đoàn Khánh Đ,

sinh ngày 23/9/2013 cho bà trực tiếp nuôi dưỡng để cháu được nuôi dưỡng trong

môi trường đầy đủ, thuận lợi để cháu trở thành người công dân có ích cho xã hội

và hiếu thảo với cha mẹ.

Hiện tại bà có lương thu nhập về việc cho thuê nhà ở 20.000.000

đồng/tháng và chuyên viên tư vấn về Luật sở hữu trí tuệ thu nhập 20.000.000

đồng/tháng, bà đã mua bảo hiểm Menulife cho 02 con đến 18 tuổi, có chỗ ở ổn

định.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Dương Thị T

và bà Đoàn Thị Thu H trình bày: Án xử sơ thẩm giao trẻ Nguyên Đ cho bà H

nuôi dưỡng theo nguyện vọng của trẻ Nguyên Đ là phù hợp, qua kết quả học tập

biết được sự chăm sóc của mẹ là rất tốt, qua nhận thức của bé thể hiện mẹ có

phẩm chất nuôi con. Đối với cháu Khánh Đ hiện nay còn rất nhỏ, là cháu gái

chưa tự chăm sóc cho bản thân, cần bàn tay chăm sóc của người mẹ vì mẹ còn phải chăm sóc tâm sinh lý của trẻ. Việc không muốn xáo trộn trong khi mẹ cháu không phải là người lạ, mới giao con từ tháng 7/2017 mới 01 năm chưa ảnh hưởng gì. Bà H có việc làm có thu nhập, có nhà cửa ổn định, đã mua bảo hiểm cho 02 con đến năm 18 tuổi. Mặt khác, cháu Nguyên Đ nhận thức ở với ông L khó khăn nên nhường em Khánh Đ ở với mẹ nên bà H thay đổi nội dung kháng cáo mong muốn được trực tiếp nuôi cháu Khánh Đ. Đề nghị Tòa án chấp nhận kháng cáo của bà H sửa án sơ thẩm, giao Khánh Đ cho bà H, giao cháu Nguyên Đ cho ông L vì yêu cầu kháng cáo của bà H là phù hợp đạo lý, tâm sinh lý của trẻ..

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Văn Q và

ông Nguyễn L trình bày: Bản trình bày ý kiến của trẻ Nguyên Đ không có mẹ xác nhận chữ ký, yêu cầu của bà H vượt quá nội dung kháng cáo, ông L làm việc giờ hành chính có thời gian đưa đón con, mẹ già khám bệnh nay đã về quê, việc dẫn con tiệc tùng theo hình ảnh là tại nhà của người bạn nhân dịp Tết. Hiện nay cháu Khánh Đ đang học gần nhà ông L, để tránh xáo trộn việc học, sinh hoạt, ổn định phát triển tâm sinh lý của trẻ đề nghị Tòa án giữ nguyên án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu:

Việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán

chủ tọa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về “Nguyên tắc xét xử, thành phần hội đồng xét xử, sự có mặt của các thành viên trong hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa; Phạm vi xét xử phúc thẩm” tại phiên tòa phúc thẩm.

Về nội dung vụ án: Đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm, không chấp nhận

kháng cáo của bà Đoàn Thị Thu H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra

công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

Về hình thức: Đơn kháng cáo ngày 23/4/2018 bà Đoàn Thị Thu H nộp

trong thời hạn luật định và đã đóng tạm ứng án phí phúc thẩm ngày 24/4/2018 là phù hợp với quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên đơn kháng cáo được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung:

Án sơ thẩm giao cho bà H nuôi cháu Nguyên Đ, ông L trực tiếp nuôi cháu

Khánh Đ, bà H kháng cáo yêu cầu được nuôi luôn cháu Khánh Đ. Tại phiên tòa bà H thay đổi yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Khánh Đ, ông L trực tiếp nuôi cháu Nguyên Đ. Theo như đơn trình bày của cháu Nguyên Đ, sinh ngày

14/10/2005 có nguyện vọng ở với ba vì nay cháu gần 14 tuổi đã có thể tự chăm

sóc bản thân, tự học tập và phụ ba chăm sóc bà nội. Xét yêu cầu này là không

vượt quá yêu cầu kháng cáo của bà H như ý kiến trình bày của người bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.

Nguyện vọng được trực tiếp nuôi con của ông L, bà H là xuất phát từ tình

thương và trách nhiệm đối với con mình, cả hai đều có điều kiện nuôi con như:

chỗ ở, thu nhập ổn định, thời gian dành cho con… nên việc giao mỗi người một

con để trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định của pháp luật. Đối với yêu cầu

kháng cáo của bà H, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trước khi nộp đơn ly hôn, bà H

và ông L đã có thời gian sống ly thân từ tháng 7/2017, đồng thời từ thời gian này

bà trực tiếp nuôi cháu Nguyên Đ, ông L trực tiếp nuôi cháu Khánh Đ cho đến

nay. Theo kết quả học tập tại học bạ tiểu học và trung học cơ sở của trẻ Nguyên

Đ đạt hạnh kiểm tốt, học lực giỏi, cháu Nguyễn Đoàn Khánh Đ thì có Giấy khen

Bé khỏe- Ngoan của trường Mầm non Thánh Tâm, tại phiên tòa các bên cũng

không đưa ra tài liệu chứng cứ nào thể hiện các bên nuôi con không tốt. Hiện

nay cháu Nguyên Đ đang học tại trường THCS Phước Lộc, huyện Tuy Phước,

tỉnh Đ, do bà H trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, cháu Khánh Đ hiện đang học lớp

Lá ở trường Mầm non Thánh Tâm do ông L trực tiếp nuôi dưỡng ở gần nơi ở

của ông L. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các cháu, Hội đồng xét

xử xem xét giao cháu Nguyễn Đoàn Nguyên Đ cho bà H tiếp tục trực tiếp nuôi

dưỡng, giao cháu Nguyễn Đoàn Khánh Đ cho ông L tiếp tục trực tiếp nuôi

dưỡng như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh cũng như trình bày của người bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là

phù hợp với thực tế và đúng với quy định của pháp luật. Do đó giữ nguyên án sơ

thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bà Đoàn Thị Thu H cũng như lời trình

bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà H.

Các bên không yêu cầu cấp dưỡng nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con

cho đến khi các bên có yêu cầu. Quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc nuôi

dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các Điều

81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Những phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị thì

phát sinh hiệu lực pháp luật.

Án phí phúc thẩm: Do giữ nguyên án sơ thẩm nên bà Đoàn Thị Thu H

phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 2 Điều 296, Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2015,

Căn cứ Khoản 1 Điều 53, Khoản 1 Điều 56 và Điều 57, Điều 81, 82, 83,

84, Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014,

Căn cứ điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14

ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;

Không chấp nhận kháng cáo của bà Đoàn Thị Thu H; Giữ nguyên án sơ

thẩm số 523/2018/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 4 năm 2018 và Quyết định sửa chữa bổ sung bản án số 38/2018/QĐ-SCBSBA ngày 11/5/2018 của Tòa án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, tuyên xử:

Con chung: Giao con chung Nguyễn Đoàn Nguyên Đ, sinh ngày

24/10/2005 cho Đoàn Thị Thu H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi trưởng thành; Giao con chung Nguyễn Đoàn Khánh Đ, sinh ngày 23/9/2013 cho ông Nguyễn L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi các bên có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà H và ông L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo

dục con mà không ai được cản trở. Bà H, ông L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của của phía bên kia nếu bà H và ông L lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc người thân thích; Cơ quan

quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi

mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Những phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị thì

phát sinh hiệu lực.

Án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đoàn Thị Thu H phải chịu số tiền 300.000 (Ba

trăm ngàn) đồng nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng bà H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0001941 ngày 06/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Đoàn Thị Thu H phải chịu số tiền 300.000 (Ba

trăm ngàn) đồng nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng bà H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2018/0029100 ngày 24/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền

thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị

cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân

sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành

án dân sự

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

- Tòa án nhân dân Tối cao;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Tòa án nhân dân cấp cao tại TPHCM;

- Viện kiểm sát Cấp cao tại TPHCM,

- Viện kiểm sát nhân dân Tp.HCM

- Tòa án nhân dân quận B, TPHCM;

- Chi cục THADS quận B, TPHCM;

- Các đương sự (để thi hành)

- Lưu hồ sơ vụ án.

Lê Phan Thị Minh Nguyệt THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Nhung Nguyễn Lê Thiên Hương

Lê Phan Thị Minh Nguyệt

Cỡ chữ