vanban.org

Bản án 818/2019/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 18/09/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/09/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà — án dân sự — "Hoàng Thị Phương H - Công ty Cổ phần Địa ốc và Đầu tư P"
  • Căn cứ chính? Điều 52 Luật Kinh doanh bất động sản; Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 128 Bộ luật Dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
!
Bản án số: 818/2019/DS-PT
Ngày: 18-9-2019
V/v tranh chấp hợp đồng góp vốn
mua bán căn hộ.

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm"phán"–"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Đào Quốc Thịnh!

Các"Thẩm"phán:"

Ông Nguyễn Hữu Thơ

Ông Nguyễn Thanh Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Thư ký Tòa án nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên tòa: Bà Đào Thị Xuân Hồng – Kiểm sát viên.

Vào các ngày 12/9/2019 và ngày 18/9/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số

298/2019/TLPT-DS ngày 20 tháng 6 năm 2019 về việc ‘‘Tranh"chấp"hợp"đồng"

góp"vốn"mua"bán"căn"hộ’’. "

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 154/2019/DS-ST ngày 14/5/2019 của Tòa án

nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3716/2019/QĐ-PT

ngày 19/8/2019, giữa các đương sự:

Nguyên"đơn: Bà Hoàng Thị Phương H, sinh năm 1969 (có mặt)

Địa chỉ: 108 đường QT, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên lạc: 983 đường Phạm Văn B, Phường A, quận G, Thành phố

Hồ Chí Minh.

Bị"đơn: Công ty Cổ phần Địa ốc và Đầu tư P

Trụ sở: 33 đường Phan H, Phường N, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người"đại"diện"theo" ủy"quyền:" Ông Trần Quang H, sinh năm 1981 (Hợp

đồng ủy quyền ngày 02/4/2018) (có mặt)

Địa chỉ: 42 T2, phường N, Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người"bảo"vệ"quyền"và"lợi"ích"hợp"pháp"của"bị"đơn: Luật sư Ngô Trọng H–

Công ty luật TNHH Luật H và cộng sự thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Tháp (có

mặt)

Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan:"

1/ Công ty Cổ phần Xây dựng và Kinh doanh V

Trụ sở: (Lầu 6) Số 9-19 đường H, phường Nguyễn Thái B, Quận F,

Thành phố Hồ Chí Minh.

Người"đại"diện"theo"ủy"quyền: Ông Lâm Hoàng T, sinh năm 1992 (Theo

Giấy ủy quyền số: 23/GUQ-CNT ngày 31/7/2019) (có mặt)

2/ Công ty trách nhiệm hữu hạn Sản xuất và Kinh doanh B

Trụ sở: 118/107/6 đường Phan H, Phường N, quận B, Thành phố Hồ Chí

Minh.

Người"đại"diện"theo"pháp"luật: Ông Nguyễn Lương T, sinh năm 1952;

Chức danh: Giám đốc (vắng mặt)

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo"nội"dung"bản"án"sơ"thẩm:""

Tại"Đơn"khởi"kiện"ngày"12/01/2018"và"tại"phiên"tòa"nguyên"đơn"là"bà"

Hoàng"Thị"Phương"H"trình"bày:

Ngày 03/8/2009 bà có ký với Công ty trách nhiệm hữu hạn Sản xuất và

Kinh doanh B (sau"đây"gọi"là"Công"ty"B)"06 hợp đồng góp vốn mua bán căn hộ (sau"đây"gọi"là"06"Hợp"đồng) tại dự án chung cư Phú L, tại địa chỉ 102 Phan H, Phường N, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (sau"đây"gọi"là"Dự"án) cụ thể như sau:

- Hợp đồng số: 32 HĐGV/2009/BNT, mã căn hộ B3 tầng 9, giá trị hợp

đồng 861.120.000 đồng;

- Hợp đồng số: 33 HĐGV/2009/BNT, mã căn hộ B5 tầng 9, giá trị hợp

đồng 852.248.000 đồng;

- Hợp đồng số: 34 HĐGV/2009/BNT, mã căn hộ B6 tầng 9, giá trị hợp

đồng 817.440.000 đồng;

- Hợp đồng số: 35 HĐGV/2009/BNT, mã căn hộ B7 tầng 9, giá trị hợp

đồng 798.000.000 đồng;

- Hợp đồng số: 36 HĐGV/2009/BNT, mã căn hộ C1 tầng 9, giá trị hợp

đồng 673.920.000 đồng;

- Hợp đồng số: 37 HĐGV/2009/BNT, mã căn hộ C2 tầng 9, giá trị hợp

đồng 659.520.000 đồng.

Tất cả 06 Hợp đồng trên đều giao nhà vào tháng 8/2011.

Thực hiện 06 Hợp đồng: Trong các ngày 03/8/2009, 09/12/2009 và ngày

22/12/2009 bà đã giao cho Công ty B là 3.810.000.000 đồng, cụ thể như sau: Hợp đồng số: 32 HĐGV/2009/BNT thanh toán 750.000.000 đồng; Hợp đồng số: 33 HĐGV/2009/BNT thanh toán 750.000.000 đồng; Hợp đồng số: 34 HĐGV/2009/BNT thanh toán 610.000.000 đồng; Hợp đồng số: 35 HĐGV/2009/BNT thanh toán 700.000.000 đồng; Hợp đồng số: 36 HĐGV/2009/BNT thanh toán 500.000.000 đồng và Hợp đồng số: 37 HĐGV/2009/BNT thanh toán 500.000.000 đồng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, được biết ngày 16/6/2010 Công ty

B đã chuyển nhượng dự án trên cho Công ty Cổ phần Xây dựng và Kinh doanh

V(sau"đây"gọi"là"Công"ty"V). Ngày 19/02/2016 Công ty V chuyển nhượng toàn

bộ dự án trên cho Công ty Cổ phần Địa ốc và Đầu tư P (sau"đây"gọi"là"Công"ty"

P) theo Quyết định số 648/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh. Quá trình Công ty P thi công dự án trên bà đã nhiều lần làm việc, yêu cầu

Công ty P giải quyết quyền lợi cho bà về các hợp đồng góp vốn mua bán căn hộ

tại dự án chung cư Phú L nhưng đến nay Công ty P không giải quyết mà vẫn rao

bán các căn hộ.

Bà đã gửi nhiều đơn khiếu nại đến các cơ quan ban ngành, đến ngày

12/10/2017 thì Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh có Văn bản số 10255/STP-

VB gửi Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nêu rõ: Căn cứ điểm a, b,

khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 52 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014,

Công ty P phải kế thừa toàn bộ các quyền và nghĩa vụ phát sinh của Công ty Vật

Tư, trong đó bao gồm cả nghĩa vụ của Công ty V kế thừa từ Công ty B chưa

được giải quyết dứt điểm. Công ty P đã kinh doanh, xây căn hộ để bán nên Công

ty P phải kế thừa nghĩa vụ, nay bà khởi kiện yêu cầu Công ty P phải trả lại cho

bà 3.810.000.000 đồng là số tiền bà đã góp vốn để mua căn hộ tại Chung cư Phú

Long.

Bà"Nguyễn"Thị"Dạ"M"là"người"đại"diện"theo"ủy"quyền"của"Bị"đơn"–"Công"

ty"P"trình"bày:!

1. Về trách nhiệm giải quyết tranh chấp đối với yêu cầu của nguyên đơn:

Ngày 28/07/2015 Công ty V có văn bản cam kết số: 240/2015/CNT-

QLDA gửi cho Hội Đồng chuyển nhượng dự án và Cục Thi hành án dân sự cam

kết chịu trách nhiệm trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh với Công ty B và

bên thứ ba có liên quan đến dự án. Ngày 06/11/2015 Ủy ban nhân dân Thành

phố Hồ Chí Minh có Công văn số 10721/VPDTMT giao cho Sở Tư pháp Thành

phố Hồ Chí Minh kiểm tra kỹ về cơ sở pháp lý trước khi giải quyết hồ sơ chuyển

nhượng dự án. Ngày 19/11/2015 Sở Tư pháp có Văn bản số 6248/STP-VB trình

Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, nội dung văn bản cũng đã nói rõ về

việc Công ty Vcam kết chịu trách nhiệm giải quyết các tranh chấp phát sinh với

Công ty B và bên thứ ba. Nên ngày 19/02/2016, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ

Chí Minh mới có Quyết định số 648/QĐ-UBND về việc chấp thuận cho chuyển

nhượng dự án Chung cư Phú L. Ngày 25/10/2016, Ủy ban nhân dân Thành phố

Hồ Chí Minh có Quyết định số 5628/QĐ-UBND về sửa đổi Quyết định số

648/QĐ-UBND ngày 19/02/2016.

Liên quan đến việc mua căn hộ tại Chung cư Phú L với Công ty B. Quá

trình giải quyết khiếu nại của các hộ dân, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh có Thông báo số 905/TB-VP ngày 01/12/2017, nội dung kết luận của Phó

Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại cuộc họp giải quyết

khiếu nại và điều chỉnh chỉ tiêu quy hoạch – kiến trúc tại Chung cư Phú Long,

Phường N, quận B, đề nghị làm rõ các nội dung liên quan đến việc mua căn hộ

tại chung cư Phú L với Công ty B. Ngày 05/02/2018, Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh ra Thông báo số 925/TB-SXD-VP, tại Mục 4 trang 2 có nội dung đề nghị Công ty B và Công ty V báo cáo bằng văn bản về hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc ký kết Hợp đồng góp vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, góp vốn mua căn hộ với các công dân có liên quan. Vì đây là tình tiết mới phát sinh có liên quan đến dự án.

Vì vậy, ngày 02/04/2018, Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh ra

Thông báo số 3719/TB-SXD-VP về Ý kiến kết luận của ông Trần Trọng Tuấn – Giám đốc Sở Xây dựng, tại cuộc họp giải quyết vướng mắc liên quan đến chung cư Phú L. Tại mục 2 đã kết luận rõ ràng về việc giải quyết các vấn đề liên quan đến các Hợp đồng góp vốn cho Công ty B.

Tiếp đến, ngày 29/05/2018, Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh có

Văn bản số 6009/SXD-TT về việc liên quan đến Dự án đầu tư xây dựng chung cư Phú L và thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, tại mục 4 cũng có kết luận “về trách nhiệm giải quyết các vấn đề liên quan đến hợp đồng góp vốn do Công ty B cung cấp nêu trên là trách nhiệm của Công ty Vvà Công ty B. Công ty P đã nhận chuyển nhượng Dự án nêu trên là phù hợp quy định của pháp luật. Do đó, trong trường hợp các bên góp vốn theo hợp đồng không đồng ý với việc giải quyết các vấn đề liên quan đến hợp đồng này của Công ty B và Công ty V thì có quyền nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền để được xem xét, giải quyết theo quy định, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên”. Và tại mục 6.2 “về tranh chấp giữa của Công ty B, Công ty V và bên thứ ba (góp vốn) có liên quan (nếu có), các bên có liên quan có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền để được xem xét giải quyết theo quy định. Giao Sở Xây dựng có văn bản trả lời cho Công ty B, Công ty V và bên thứ ba (góp vốn) có liên quan, để biết và thực hiện theo quy định”."

Từ những cơ sở pháp lý và những vấn đề trên, với yêu cầu của bà H thì

trách nhiệm giải quyết tranh chấp thuộc về Công ty Vvà Công ty B. Công ty P không liên quan đến việc giải quyết tranh chấp này.

2. Ý kiến về 06 (sáu) hợp đồng góp vốn mua bán căn hộ tại dự án chung

cư cao tầng Phú L giữa bà Hvà Công ty B:

Thứ nhất, nội dung của hợp đồng này là trái quy định của pháp luật về

Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản. Cụ thể: Hợp đồng được bà Hký với Công ty B vào năm 2009, tuy nhiên vào thời gian này dự án của Công ty B vẫn chưa được xây dựng phần móng của nhà ở. Tại biên bản bàn giao tài sản là dự án chung cư Phú Lgiữa Công ty B và Công ty Vngày 29/11/2013 cũng thể hiện phần móng của dự án chưa được tiến hành thi công. Cụ thể hơn, tại Tờ trình số: 05 của Hội đồng thẩm định chuyển nhượng dự án ngày 15/06/2015 của UBND Thành phố Hồ Chí Minh, tại phần I mục 1.2 về kết quả thực hiện có nêu rõ: “Dự" án"chung"cư"Phú"Long,"Phường"N,"quận"B"đến"nay"chưa"được"xây"dựng,"khu"đất" của"dự"án"là"đất"trống,"Công"ty"Cổ"phần"Xây"dựng"và"Kinh"doanh"V"đang"dừng" lại"ở"hạng"mục"ép"cọc"và"đào"hầm"công"trình,"có"lưới"B40"rào"xung"quang"khu" đất"của"dự"án”,"tại phần III mục 1b về điều kiện chuyển nhượng dự án chung cư

Phú Ltừ Công ty Vsang Công ty P cũng nêu rõ: “Dự" án" chung" cư" Phú" L,"

Phường" N," quận" B" đến" nay" chưa" được" xây" dựng," khu" đất" của" dự" án" là" đất"

trống,..”

Thứ hai, toàn bộ quá trình bàn giao dự án chung cư Phú L không có một

văn bản nào ghi nhận về việc bàn giao nghĩa vụ hợp đồng giữa bà H và Công ty

B cho bên nhận chuyển nhượng là Công ty V. Vì theo quy định chủ đầu tư cũ có

trách nhiệm phải thông báo kịp thời, đầy đủ, công khai và giải quyết thỏa đáng

quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng và các bên có liên quan. Nếu có thông

báo bên thứ ba có liên quan thì Công ty Vcó trách nhiệm giải quyết kịp thời.

Thứ ba, bà H với vai trò là người đầu tư dự án chung cư, thì việc liên hệ

để biết tiến độ thi công chung cư đến đâu và như thế nào. Nhưng trong quá trình

làm thủ tục chuyển nhượng chung cư Phú Ltừ Công ty B sang Công ty V. Qua

một quá trình giải quyết của cơ quan có thẩm quyền, thông qua việc bán phát

mại theo Quyết định số 851/2010/QĐST-KDTM của Tòa án nhân dân Thành

phố Hồ Chí Minh, nhưng bà H không đưa ra bất kỳ ý kiến, khiếu nại hay tranh

chấp nào để các bên biết và có trách nhiệm làm rõ vấn đề khi các bên tham gia

chuyển nhượng dự án chung cư. Mãi sau này mới có khiếu nại thì được cơ quan

có thẩm quyền giải quyết khiếu nại cụ thể trong những quyết định và văn bản đã

nêu ở phần 1.

Thứ tư, dự án căn hộ chung cư Phú Lđược chuyển nhượng từ Công ty B

sang Công ty V, sau đó Công ty V chuyển nhượng cho Công ty P. Việc chuyển

nhượng được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật và cơ quan có

thẩm quyền cho phép. Vì vậy, Công ty P không có trách nhiệm giải quyết và

không có nghĩa vụ thanh toán đối với yêu cầu của bà H.

Với những nội dung trình bày như trên, Công ty P không chấp nhận toàn

bộ yêu cầu của Nguyên đơn.

Ông"Lâm"Hoàng"T"là"người"đại"diện"theo"ủy"quyền"của"Công"ty"V"trình"

bày:

Ngày 23/01/2008 Công ty V và Công ty B ký hợp đồng hợp tác đầu tư

dự án với nội dung cơ bản giai đoạn 1 là hợp tác đầu tư, sau khi Dự án đủ điều

kiện chuyển nhượng theo quy định của pháp luật Công ty B sẽ chuyển nhượng

toàn bộ dự án cho Công ty V. Ngay khi ký hợp đồng Công ty B phải ủy quyền

cho Công ty V tổ chức thi công công trình, toàn quyền khai thác và kinh doanh

sản phẩm (căn hộ và thương mại) để thu hồi vốn. Thực hiện hợp đồng hợp tác

Công ty Vđã thanh toán đầy đủ và đúng hạn cho Công ty B, nhưng Công ty B

không thực hiện đúng cam kết và vi phạm nghiêm trọng hợp đồng, Công ty B

không trả tiền đã gây thiệt hại cho Công ty V.

Ngày 30/11/2009 Công ty V đã khởi kiện Công ty B. Ngày 6/6/2010,

Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số

851/2010/QĐST-KDTM về việc công nhận thỏa thuận của các đương sự, xác

nhận giá trị tài sản được bảo đảm để thi công dự án là 46 tỷ đồng, dự nợ đến

ngày 8/9/2010 là 50.677.990.907 đồng, Quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đã được đưa ra thi hành theo đúng quy định của pháp luật. Quá trình thi hành án ông Nguyễn Lương T là Người đại diện theo pháp luật của Công ty B vắng mặt tại các buổi làm việc và không tự nguyện thi hành án nên ngày 26/10/2010, Cục Thi hành án dân sự đã cưỡng chế thi hành án. Căn cứ theo Quyết định của Tòa án, đề nghị của Cục Thi hành án, ý kiến tham mưu của (Sở Xây dựng, Sở Tư pháp, Sở Tài nguyên Môi trường) ngày 3/01/2013 Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định số 17/UBND-PCNC chuyển giao dự án Phú Long cho Công ty V.

Do khó khăn về tài chính, để tái cấu trúc hoạt động, Công ty Vđã chuyển

nhượng lại Dự án cho Công ty P. Việc chuyển nhượng Dự án đã được Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chấp thuận tại Quyết định số 648/QĐ-UBND ngày 19/02/2016, điều chỉnh tại Quyết định số 5628/QĐ-UBND ngày 25/10/2016.

Các hợp đồng góp vốn, hợp đồng mua bán căn hộ đều được ký kết giữa

một bên là cá nhân và một bên là Công ty B do ông Nguyễn Lương T đại diện mà không có sự tham gia hoặc liên hệ gì với Công ty V nên các giao dịch này không phát sinh quyền, nghĩa vụ nào đối với Công ty V. Công ty V và Công ty B chỉ có quan hệ kinh tế, tranh chấp phát sinh đã được Tòa án, Cơ quan thi hành án giải quyết. Việc chuyển nhượng Dự án từ Công ty B sang Công ty Vvà từ Công ty V sang Công ty P là hoàn toàn phù hợp quy định của pháp luật. Công ty B là người trực tiếp nhận tiền từ các hộ dân nên để giải quyết vụ án được khách quan thì đề nghị Tòa án yêu cầu đại diện Công ty B có mặt. Hơn nữa, về các hợp đồng góp vốn tại thời điểm Công ty B nhận tiền từ bà Hthì dự án chưa thi công phần móng và theo quy định của pháp luật thì chủ đầu tư không được huy động hơn 70% giá trị căn hộ trước khi bàn giao. Vì vậy, các hợp đồng giao kết giữa bà H và Công ty B là trái quy định pháp luật.

Ông"Nguyễn"Lương"T"là"người"đại"diện"theo"pháp"luật"của"Công"ty"B"

trình"bày:

Năm 2008 Công ty B và Công ty V hợp tác với nhau để thực hiện dự án

chung cư Phú L tại 102 Phan H, Phường N, quận B, để thực hiện dự án chúng tôi phải bán căn hộ để có tiền bổ sung xây dựng dự án. Ngày 03/8/2009 Công ty B có ký 06 hợp đồng góp vốn mua bán căn hộ với bà H như bà H đã trình bày. Tổng số tiền Công ty B nhận của bà Hqua 06 Hợp đồng góp vốn mua bán căn hộ là 3.810.000.000 đồng. Đối vớ với yêu cầu của bà H đối với Công ty P, Công ty B đề nghị Tòa án xem xét giải quyết chấp nhận yêu cầu của bà H.

Tại"Bản"án"dân"sự"sơ"thẩm"số"154/2019/DS-ST"ngày"14/5/2019""của"Tòa"

án"nhân"dân"quận"B,"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh"tuyên"xử:""

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn – bà Hoàng Thị

Phương H.

- Buộc Công ty Cổ phần Địa ốc và Đầu tư P có trách nhiệm trả cho bà

Hoàng Thị Phương H 3.810.000.000đ (Ba tỷ tám trăm mười triệu đồng) theo 06 Hợp đồng góp vốn mua bán căn hộ (Hợp đồng số: 32 HĐGV/2009/BNT; Hợp

đồng số: 33 HĐGV/2009/BNT; Hợp đồng số: 34 HĐGV/2009/BNT; Hợp đồng

số: 35 HĐGV/2009/BNT; Hợp đồng số: 36 HĐGV/2009/BNT; Hợp đồng số: 37

HĐGV/2009/BNT) tại dự án chung cư Phú Ltại địa chỉ 102 Phan H, Phường N,

quận B, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 03/8/2009 giữa bà Hoàng Thị Phương H

và Công ty trách nhiệm hữu hạn Sản xuất và Kinh doanh B ngay sau khi bản án

có hiệu lực pháp luật.

- Kể từ ngày có Đơn yêu cầu thi hành án của bà Hoàng Thị Phương H

cho đến khi thi hành án xong, Công ty Cổ phần Địa ốc và Đầu tư P còn phải

chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định

tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật

có quy định khác.

2/ Về chi phí giám định: Công ty cổ phần Xây dựng và Kinh doanh V

phải chịu 1.200.000đ (Một triệu hai trăm ngàn đồng) chi phí giám định. Chi phí

giám định Công ty cổ phần Xây dựng và Kinh doanh V đã nộp.

3/ Về địa điểm thi hành: Thi hành tại Chi cục Thi hành án Dân sự có

thẩm quyền.

4/ Về án phí sơ thẩm: Công ty Cổ phần Địa ốc và Đầu tư P phải chịu

108.200.000đ (Một trăm linh tám triệu hai trăm ngàn đồng) án phí Dân sự sơ

thẩm.

Hoàn lại cho bà Hoàng Thị Phương H 54.100.000đ (Năm mươi tư triệu

một trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án

phí, lệ phí Tòa án số: AA/2017/0007584 ngày 12/01/2018 của Chi cục Thi hành

án Dân sự quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngoài ra án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề về quyền, nghĩa vụ thi

hành án và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau"khi"xét"xử"sơ"thẩm:"

Ngày 22/5/2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân quận B có Quyết định

số 03/QĐKNPT-VKS-DS kháng nghị bản án sơ thẩm. ""

Ngày 22/5/2019, Công ty P làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Ngày 29/5/2019, Công ty V làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại"phiên"tòa"phúc"thẩm:""

Người"đại"diện"hợp"pháp"của"Công"ty"P"trình"bày:""

-"06 Hợp đồng góp vốn giữa bà Hoàng Thị Phương H và Công ty B là

hợp đồng vô hiệu vì:

+ Hợp đồng được bà H ký với Công ty B vào năm 2009, tuy nhiên vào

thời gian này dự án của Công ty B vẫn chưa được xây dựng phần móng. Theo

biên bản bàn giao tài sản là dự án chung cư Phú L giữa Công ty B và Công ty V

ngày 29/11/2013 thể hiện phần móng của dự án chưa được tiến hành thi công.

Tại Tờ trình số 05 của Hội đồng thẩm định chuyển nhượng dự án ngày

15/06/2015 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, tại phần I mục 1.2 về kết quả thực hiện có nêu rõ: “Dự"án"chung"cư"Phú"Long,"Phường"N,"quận"B"đến" nay"chưa"được"xây"dựng,"khu"đất"của"dự"án"là"đất"trống,"Công"ty"Cổ"phần"Xây" dựng"và"Kinh"doanh"V"đang"dừng"lại"ở"hạng"mục"ép"cọc"và"đào"hầm"công"trình," có"lưới"B40"rào"xung"quang"khu"đất"của"dự"án”,"tại phần III mục 1b về điều kiện chuyển nhượng dự án chung cư Phú L từ Công ty V sang Công ty P nêu rõ: “Dự"án"chung"cư"Phú"L,"Phường"N,"quận"B"đến"nay"chưa"được"xây"dựng,"khu" đất"của"dự"án"là"đất"trống”."

+ Bà H không cung cấp hóa đơn để có căn cứ chứng minh thời điểm bà

Hvà Công ty B giao dịch với nhau, bà H chỉ đưa ra được 06 bản hợp đồng và biên bản xác nhận của Công ty B có nhận tiền của bà H. Việc ký kết và việc nhận tiền giữa hai bên là bà Hoàng Thị Phương H và Công ty B là do hai bên thừa nhận với nhau trong khi dự án tại thời điểm đó theo Luật Kinh doanh bất động sản và Luật Nhà ở không cho phép, đồng thời quá trình bàn giao dự án cho Công ty V cũng không có biên bản nào ghi nhận Công ty B bàn giao những khách hàng ký kết mua căn hộ tại thời điểm chuyển giao. Điều này là trái với điểm b khoản 1 Điều 52 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, quy định như sau: “"Chuyển"giao"hồ"sơ"liên"quan"cho"bên"nhận"chuyển"nhượng;"thông"báo"kịp" thời," đầy" đủ," công" khai" và" giải" quyết" thỏa" đáng" quyền," lợi" ích" hợp" pháp" của" khách"hàng"và"các"bên"liên"quan"tới"dự"án,"phần"dự"án"chuyển"nhượng;”.

Như vậy, 06 Hợp đồng giữa bà H ký kết với Công ty B ngày 03/8/2009

là vô hiệu theo quy định của pháp luật.

- Về pháp lý chuyển nhượng dự án: Công ty P nhận chuyển nhượng Dự

án nêu trên là phù hợp quy định của pháp luật tại khoản 1, khoản 3 Điều 6 Nghị định số 153/2007/NĐ-CP ngày 15/10/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Kinh doanh bất động sản.

Đến thời điểm này không có văn bản nào giữa Công ty B, Công ty V và

Công ty P về việc chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ từ Công ty B, Công ty V và Công ty P đối với 06 Hợp đồng.

Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không

chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người"đại"diện"hợp"pháp"của"Công"ty"V"trình"bày:""

- Công ty Vxác nhận không có văn bản nào của Công ty B bàn giao về

những hộ dân đã mua căn hộ trước đây với Công ty B cho Công ty V. Đồng ý với yêu cầu cũng như trình bày của Công ty P.

- Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của Công ty

Vật tư: Sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bà"Hoàng"Thị"Phương"H"trình"bày:""

- Bà xác định 06 Hợp đồng ký với Công ty B là hợp đồng mua bán căn

hộ hình thành trong tương lai. Khi mua bán căn hộ, thời gian bàn giao căn hộ là tháng 8/2011 tuy nhiên khi đó do không để ý nên đến khoảng năm 2013 bà mới đi khiếu nại tại Ủy ban nhân dân Phường N, quận B. Thực tế bà ký và chuyển

tiền mua bán 07 căn hộ nhưng bà chỉ còn giữ được hồ sơ của 06 Hợp đồng nên

bà chỉ đi kiện đối với 06 Hợp đồng

- Bà khởi kiện yêu cầu Công ty P trả cho bà số tiền 3.810.000.000 đồng

(Ba tỷ tám trăm mười triệu đồng) theo 06 Hợp đồng góp vốn mua bán căn hộ vì

Công ty P là người kế thừa quyền, lợi ích hợp pháp của Công ty V.

- Bà xác nhận bà không có thỏa thuận nào giữa bà và Công ty B, Công ty

Vvà Công ty P về việc chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ từ Công ty B, Công ty

Vvà Công ty P đối với 06 Hợp đồng.

- Bà xác định không có yêu cầu gì đối với Công ty B, hiện tại không có

yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, bà chỉ yêu cầu Công ty P trả

tiền cho bà.

Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Công ty P và

Công ty V, không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân

dân quận B. Y án sơ thẩm. !

Đại" diện" Viện" kiểm" sát" nhân" dân" Thành" phố" Hồ" Chí" Minh" phát" biểu"

quan"điểm:

Về"tố"tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Chủ tọa,

Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng các quy định của pháp luật, những người

tham gia phiên tòa đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo luật định.

Về"nội"dung: Tại thời điểm các bên ký 06 Hợp đồng góp vốn mua bán

căn hộ ngày 03/8/2009, Công ty B chưa đáp ứng điều kiện đủ điều kiện để đưa

vào kinh doanh bất động sản hình thành trong tương lai đối với các căn hộ tại Dự

án. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc Công ty

P thanh toán 3.810.000.000 đồng là không có cơ sở.

Do 06 Hợp đồng này vô hiệu nên cấp sơ thẩm cần thông báo cho nguyên

đơn biết hậu quả của hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô

hiệu khi đương sự có yêu cầu. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận

kháng cáo của Công ty P, Công ty V và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm

sát nhân dân quận B; Hủy bản án sơ thẩm.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại

phiên tòa, sau khi nghe các bên đương sự trình bày ý kiến, sau khi nghe Đại diện

Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, sau khi

nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]."Về"hình"thức: Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân

quận B trong hạn luật định nên được chấp nhận.

Đơn kháng cáo của Công ty P và Công ty V trong hạn luật định, hợp lệ

nên được chấp nhận.

Về"thủ"tục"tố"tụng"xét"xử"vắng"mặt"đương"sự: Công ty B được Tòa án

triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Công ty B.

"[2]."Về"nội"dung"kháng"nghị"và"kháng"cáo:"""""

[2.1.]"Về"06"Hợp"đồng"góp"vốn"mua"bán"căn"hộ:"

[2.1.1]. Theo sự thừa nhận của bà H và nội dung 06 Hợp đồng thì đây là

hợp đồng mua bán căn hộ hình thành trong tương lai.

[2.1.2] Theo quy định Luật Nhà ở năm 2005 và Nghị định số

71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở 2005 thì việc đưa vào kinh doanh bất động sản hình thành trong tương lai phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

- Khoản 1 Điều 39 Luật Nhà ở năm 2005 quy định: “Phương"thức"mua"

bán,"cho"thuê"nhà"ở"thương"mại"được"thực"hiện"thông"qua"hình"thức"trả"tiền"một" lần"hoặc"trả"chậm,"trả"dần."Trường"hợp"chủ"đầu"tư"huy"động"vốn"từ"tiền"ứng"trước" của"người"có"nhu"cầu"mua"hoặc"thuê"nhà"ở"thì"chỉ"được"áp"dụng"trong"trường"hợp" thiết"kế"nhà"ở"đã"được"phê"duyệt"và"đã"được"xây"dựng"xong"phần"móng”.

- Khoản đ Điều 9 Nghị định 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính

phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở 2005 quy định:"“Đối"với" trường"hợp"huy"động"vốn"theo"hình"thức"quy"định"tại"điểm"đ"khoản"1"Điều"này" thì"chủ"đầu"tư"chỉ"được"ký"hợp"đồng"mua"bán"nhà"ở"sau"khi"đã"có"thiết"kế"kỹ" thuật"nhà"ở"được"phê"duyệt,"đã"xây"dựng"xong"phần"móng"của"nhà"ở,"đã"hoàn" thành"thủ"tục"mua"bán"qua"sàn"giao"dịch"bất"động"sản"theo"đúng"quy"định"của" pháp"luật"về"kinh"doanh"bất"động"sản"và"đã"thông"báo"cho"Sở"Xây"dựng"nơi"có" dự"án"phát"triển"nhà"ở"theo"quy"định"tại"điểm"e"khoản"này."

Việc"xây"dựng"xong"phần"móng"của"nhà"ở"(kể"cả"công"trình"nhà"ở"có"

mục"đích"sử"dụng"hỗn"hợp)"quy"định"tại"điểm"này"được"xác"định"là"giai"đoạn"đã" thi"công"xong"phần"đài"giằng"móng"(bao"gồm"cả"phần"xử"lý"nền"nếu"có)"hoặc"tới" độ" cao" mặt" bằng" sàn" của" tầng" thấp" nhất" của" công" trình" nhà" ở" đó" và" được" nghiệm"thu"kỹ"thuật"theo"quy"định"của"pháp"luật"về"xây"dựng”. "

[2.1.3]. Căn cứ 02 các tài liệu sau:

- Biên bản bàn giao tài sản là dự án chung cư Phú L giữa Công ty B và

Công ty V ngày 29/11/2013 thể hiện phần móng của dự án chưa được tiến hành thi công.

- Tờ trình số 05 của Hội đồng thẩm định chuyển nhượng dự án ngày

15/06/2015 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, tại phần I mục 1.2 về kết quả thực hiện có nêu rõ: “Dự"án"chung"cư"Phú"L,"Phường"N,"quận"B"đến" nay"chưa"được"xây"dựng,"khu"đất"của"dự"án"là"đất"trống,"Công"ty"Cổ"phần"Xây" dựng"và"Kinh"doanh"Vđang"dừng"lại"ở"hạng"mục"ép"cọc"và"đào"hầm"công"trình," có"lưới"B40"rào"xung"quang"khu"đất"của"dự"án”,"tại phần III mục 1b về điều kiện chuyển nhượng dự án chung cư Phú L từ Công ty Cổ phần Xây dựng và Kinh doanh V sang Công ty Cổ phần Địa ốc P cũng nêu rõ: “Dự"án"chung"cư"

Phú"Long,"Phường"N,"quận"B"đến"nay"chưa"được"xây"dựng,"khu"đất"của"dự"án"

là"đất"trống,..."

Như vậy từ [2.1.1], [2.1.2] và [2.1.3] có căn cứ xác định: Tại thời điểm

các bên ký 06 Hợp đồng góp vốn mua bán căn hộ ngày 03/8/2009 thì Công ty B

chưa đáp ứng điều kiện đủ điều kiện để đưa vào kinh doanh bất động sản hình

thành trong tương lai đối với các căn hộ tại Dự án.!!

Căn cứ Điều 128 Bộ luật Dân sự năm 2005, Hội đồng xét xử xác định 06

Hợp đồng vô hiệu tại thời điểm ký kết hợp đồng (ngày 03/8/2009).

[2.2]."Về"việc"chuyển"nhượng"Dự"án:""

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án:

- Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số

851/2010/QĐST-KDTM ngày 16/6/2010 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ

Chí Minh;

- Quyết định số 666/QĐ-SXD-ĐTDA ngày 14/8/2012 của Sở Xây dựng

Thành phố Hồ Chí Minh có về việc phê duyệt điều chỉnh Quyết định số 80/QĐ-

SXD-PTN ngày 04/8/2008 của Sở Xây dựng:"“Công"ty"Cổ"phần"Xây"dựng"và"

Kinh"doanh"V"là"đơn"vị"thừa"kế"thực"hiện"dự"án"theo"bản"án,"quyết"định"đã"có"

hiệu"pháp"luật"của"Tòa"án"nhân"dân"Thành"Phố,"có"trách"nhiệm"thực"hiện"toàn"

bộ"quyền,"nghĩa"vụ"và"lợi"ích"hợp"pháp"của"chủ"đầu"tư"phát"triển"dự"án"nhà"ở"

thương"mại"theo"quy"định"của"Luật"Nhà"ở,"Luật"Kinh"doanh"bất"động"sản,"Nghị"

định"số"71/2010/NĐ-CP"ngày"23/6/2010"của"Chính"phủ"và"các"quy"định"khác"

của" pháp" luật" liên" quan" hiện" hành," Công" ty" liên" hệ" Cục" Thi" hành" án" dân" sự"

Thành"Phố"và"chính"quyền"địa"phương"lập"biên"bản"chuyển"giao"hồ"sơ,"tài"liệu,"

tài"sản"có"liên"quan"đến"dự"án"trên,"đồng"thời"có"trách"nhiệm"giải"quyết"những"

giao"dịch"khác"phát"sinh"(nếu"có)"giữa"Công"Ty"TNHH"Sản"xuất"và"Thương"mại"

B"với"các"đối"tác"khác"trước"đây...”;

- Văn bản số 17/UBND-PCNC ngày 03/01/2013 của Ủy ban nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung:"‘‘Giao"Sở"Tài"Nguyên"và"Môi"trường"cập"

nhập"điều"chỉnh"quyền"sử"dụng"đất"của"dự"án"cho"Công"ty"Vđể"chấp"hành"theo"

phán"quyết"có"hiệu"lực"của"Tòa"án"nhân"dân"thành"phố"và"quyết"định"thi"hành"

án"của"Chi"cục"Thi"hành"án"Dân"sự"Thành"phố."Các"tranh"chấp,"khiếu"nại"phát"

sinh"giữa"các"cá"nhân,"tổ"chức"có"liên"quan"sẽ"do"cơ"quan"tư"pháp"và"cơ"quan"

thi"hành"án"xem"xét,"giải"quyết"theo"thẩm"quyền.’’;

- Đơn xin chuyển nhượng ngày 28/3/2015 của Công ty V sang Công ty

P;

- Văn bản cam kết số 201/2015, số 240/2015/CNT-QLDA ngày

28/6/2015, 28/7/2015 của Công ty Vgửi Hội đồng Thẩm định của Thành phố về

chuyển nhượng dự án và Cục Thi hành án dân sự cam kết chịu trách nhiệm nếu

có tranh chấp xảy ra với nội dung như sau: “Sau"khi"Công"ty"Cổ"phần"Địa"ốc"và"

Đầu"tư"P"được"cơ"quan"nhà"nước"có"thẩm"quyền"giải"quyết"cho"nhận"chuyển"

nhượng"dự"án"này,"Công"ty"Cổ"phần"Xây"dựng"và"Kinh"doanh"V(C&T)"vẫn"cam"

kết" chịu" trách" nhiệm" trong" việc" giải" quyết" tranh" chấp" phát" sinh" với" Công" ty" TNHH"B"hoặc"bên"thứ"ba"có"liên"quan"đến"việc"chuyển"nhượng"dự"án"này"(nếu" có)"theo"quy"định;"không"ảnh"hưởng"đến"việc"tiếp"nhận,"đầu"tư,"xây"dựng"dự"án" này"của"Công"ty"Cổ"phần"Địa"ốc"và"Đầu"tư"P”;

- Quyết định số 648/QĐ-UBND ngày 19/02/2016 của Ủy ban nhân dân

Thành phố về việc chấp thuận cho chuyển nhượng dự án Chung cư Phú Ltại số 102 đường Phan H, Phường N, quận B;

- Quyết định số 5628/QĐ-UBND ngày 25/10/2016 của Ủy ban nhân dân

Thành phố có về sửa đổi Quyết định số 648/QĐ-UBND ngày 19/02/2016 của Ủy ban nhân dân Thành phố về chấp thuận chuyển nhượng dự án: “"Ký"phụ"lục" hợp"đồng"với"các"đơn"vị"thi"công,"tư"vấn"thiết"kế,"tư"vấn"giám"sát"và"các"khách" hàng"đã"mua"căn"hộ"từ"Chủ"đầu"tư"cũ"là"Công"Ty"TNHH"Sản"xuất"và"Thương" mại"B"(nếu"có)"để"đảm"bảo"mọi"quyền"lợi"và"nghĩa"vụ"có"liên"quan"đến"các"đơn" vị,"cá"nhân"này”. Nội dung sửa đổi điểm 4 Điều 4 như sau: “"Ký"phụ"lục"hợp" đồng"với"các"đơn"vị"thi"công,"tư"vấn"thiết"kế,"tư"vấn"giám"sát"và"các"khách"hàng" đã"mua"căn"hộ"từ"Chủ"đầu"tư"là"Công"ty"Cổ"phần"Xây"dựng"và"Kinh"doanh"V(" bên"chuyển"nhượng"dự"án)”;

- Quyết định số 648/QĐ-UBND ngày 19/02/2016 và Quyết định số

5628/QĐ-UBND ngày 25/10/2016 của UBND Thành phố Hồ Chí Minh về việc UBND Thành phố chấp thuận việc chuyển nhượng dự án từ Công ty V sang cho Công ty P.

Như vậy việc chuyển nhượng dự án từ Công ty B sang cho Công ty Vvà

từ Công ty Vsang cho Công ty P là hợp pháp, phù hợp quy định tại Điều 21 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006, Điều 49 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014.

Căn cứ Điều 6 Nghị định số 153/2007/NĐ-CP ngày 15/10/2007 của

Chính phủ; điểm a khoản 2 Điều 52 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định về‘‘Kế" thừa" và" thực" hiện" quyền," nghĩa" vụ" của" chủ" đầu" tư" chuyển" nhượng"đã"chuyển"giao” thì Công ty P phải kế thừa toàn bộ các quyền và nghĩa vụ phát sinh của Công ty V, trong đó bao gồm cả nghĩa vụ của Công ty Vkế thừa từ Công ty B chưa được giải quyết dứt điểm. Việc kế thừa quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư chỉ đối với những hợp đồng hợp pháp có hiệu lực pháp luật khi chuyển nhượng Dự án.

Tuy nhiên, như đã nhận định tại [2.1.3] thì 06 Hợp đồng vô hiệu ngay từ

thời điểm giao kết hợp đồng (ngày 03/8/2009) nên Công ty P không có trách nhiệm kế thừa quyền và nghĩa vụ đối với 06 Hợp đồng khi chuyển nhượng Dự án.

[2.3]. Tại phiên tòa phúc thẩm: Bà Hoa, đại diện Công ty V và Công ty P

đều xác nhận đến thời điểm xét xử phúc thẩm thì không có bất kỳ một sự thỏa thuận chuyển quyền và nghĩa vụ nào giữa bà với Công ty B, Công ty V và Công ty P đối với 06 Hợp đồng.

Ngoài ra, ngày 28/6/2015, ngày 28/7/2015 Công ty V có Bản cam kết số

201/2015, số 240/2015/CNT-QLDA gửi cho Hội đồng Thẩm định của Thành

phố về chuyển nhượng dự án và Cục Thi hành án dân sự cam kết về việc chịu

trách nhiệm trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh với Công ty B hoặc bên

thứ ba có liên quan đến việc chuyển nhượng dự án (nếu có) theo quy định,

không ảnh hưởng đến việc tiếp nhận, đầu tư, xây dựng dự án của Công ty P.

Như vậy, không có sự thỏa thuận chuyển giao nghĩa vụ giữa bà H, Công

ty B, Công ty P đối với 06 Hợp đồng theo quy định tại Điều 315 Bộ luật Dân sự

2005 hoặc Điều 370!Bộ luật Dân sự 2015.

[2.4]. Như nhận định tại [2.2] và [2.3] thì việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp

nhận yêu cầu khởi kiện của bà H là không có căn cứ pháp luật. Kháng nghị của

Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận B và kháng cáo của Công ty V và

Công ty P là có cơ sở chấp nhận.

[2.5]. Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận B

đề nghị hủy án sơ thẩm để Tòa án cấp sơ thẩm làm rõ yêu cầu giải quyết hậu quả

của hợp đồng vô hiệu:

Như đã nhận định ở trên, 06 Hợp đồng góp vốn mua bán căn hộ là vô

hiệu tại thời điểm ký kết hợp đồng. Bà H chỉ khởi kiện yêu cầu Công ty P thực

hiện nghĩa vụ kế thừa trả lại tiền cho bà và không yêu cầu Công ty B có trách

nhiệm trả tiền cho bà. Do đó, nếu hủy án sơ thẩm để giải quyết chung trong một

vụ án về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là không cần thiết và kéo dài

thời gian giải quyết ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự vì việc giải quyết

hợp đồng vô hiệu không có liên quan tới Công ty P. Bà H có quyền khởi kiện

bằng vụ án khác đối với Công ty B về việc yêu cầu tuyên bố 06 Hợp đồng góp

vốn mua bán căn hộ và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu khi đủ điều

kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Do đó, kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận B đề

nghị hủy án sơ thẩm để Tòa án nhân dân quận B giải quyết lại vụ án sẽ làm kéo

dài thời gian không cần thiết, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của

Công ty P.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của

Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận B; Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của

Công ty P và Công ty V; Sửa bản án sơ thẩm.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên

phát sinh hiệu lực.

[3]."Về"án"phí:"

- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hoàng Thị Phương H phải chịu theo quy

định của pháp luật. Bà Hphải chịu án phí trên số tiền yêu cầu Công ty P phải

thanh toán (3.810.000.000 đồng), thành tiền là 108.200.000 đồng.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên người kháng cáo

Công ty P và Công ty V không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì"các"lẽ"trên,"

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty Cổ phần Địa ốc và Đầu tư P

và Công ty cổ phần Xây dựng và Kinh doanh V;

Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận B;

Sửa bản án dân sự sơ thẩm,

Tuyên"xử:" """"

1/ Bác yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Phương H về việc buộc

Công ty Cổ phần Địa ốc và Đầu tư P có trách nhiệm hoàn trả số tiền đã mua căn hộ của 06 Hợp đồng góp vốn mua bán căn hộ ngày 03/8/2009 (bao gồm: Hợp" đồng"số"32"HĐGV/2009/BNT;"Hợp"đồng"số"33"HĐGV/2009/BNT;"Hợp"đồng"số" 34" HĐGV/2009/BNT;" Hợp" đồng" số" 35" HĐGV/2009/BNT;" Hợp" đồng" số" 36" HĐGV/2009/BNT;" Hợp" đồng" số" 37" HĐGV/2009/BNT giữa" bà" Hoàng" Thị" Phương" H" và" Công" ty" trách" nhiệm" hữu" hạn" Sản" xuất" và" Kinh" doanh" B) là 3.810.000.000 đồng.

2/ Về chi phí giám định: Công ty cổ phần Xây dựng và Kinh doanh V

phải chịu 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm ngàn đồng) chi phí giám định. Chi phí giám định Công ty cổ phần Xây dựng và Kinh doanh V đã nộp.

3/ Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Hoàng Thị Phương H phải chịu 108.200.000 đồng (Một trăm linh tám

triệu hai trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được cấn trừ vào Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2017/0007584 ngày 12/01/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, bà H còn phải nộp 54.100.000đ (Năm mươi tư triệu một trăm ngàn đồng).

- Án phí dân sự phúc thẩm:

Công ty Cổ phần Địa ốc và Đầu tư P không phải chịu án phí dân sự phúc

thẩm. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng mà Công ty Cổ phần Địa ốc và Đầu tư P đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0038481 ngày 22/5/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cho Công ty Cổ phần Địa ốc và Đầu tư P.

Công ty cổ phần Xây dựng và Kinh doanh V không phải chịu án phí dân

sự phúc thẩm. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng mà Công ty cổ phần Xây dựng và Kinh doanh Vđã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0038543 ngày 29/5/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cho Công ty cổ phần Xây dựng và Kinh doanh V.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành

án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền

yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo

quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ

sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30

Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ