vanban.org

Bản án 815/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Kim M được ly hôn với ông Trương Văn T.

Về con chung: Giao 02 trẻ tên Trương Tuyết N, sinh ngày 06/11/2014 và Trương Trọng P, sinh ngày 06/12/2006 cho bà Huỳnh Kim M trực tiếp nuôi, ông Trương Văn T cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 1.500.000 (một triệu năm trăm ngàn) đồng. Thi hành ngay sau khi án có hiệu lực cho đến khi 02 trẻ N, P lần lư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Kim M và Trương Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Kim M được ly hôn với ông Trương Văn T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 815/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 12 - 8 - 2020
V/v : “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phụng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễ n Thị Kim Liên.

2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Kim Thông - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 1220/2019/TLST - HNGĐ ngày 24 tháng 9 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 122/2020/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Kim M, sinh năm 1982 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: 104/1A ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh

Bị đơn: Ông Trương Văn T, sinh năm 1977 (vắng mặt)

Địa chỉ thường trú: 33/5 ấp 2, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh

Địa chỉ liên lạc: 104/1A ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/9/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Kim M trình bày:

Bà và ông Trương Văn T tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện H vào năm 2005.

Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống tại huyện H. Đến năm 2018 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do ông T không lo làm ăn, chỉ lo cờ bạc. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc hôn nhân của bà chỉ còn là hình thức nên bà có nguyện vọng được ly hôn với ông T.

- Về con chung: có 02 trẻ tên Trương Tuyết N, sinh ngày 06/11/2014 và Trương Trọng P, sinh ngày 06/12/2006. Bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 trẻ P, N và yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 (một triệu năm trăm ngàn) đồng.

- Về tài sản chung: không có.

- Nợ chung: không có.

Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đã tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do. Phía nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: vì đây là tranh chấp ly hôn và bị đơn cư ngụ tại huyện Hóc Môn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo các qui định tại khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà M và ông T tự nguyện tiến đến hôn nhân. Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 163 Quyển số 01/2005 ngày 08/12/2005 do Ủy ban nhân dân xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp thì đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà M và ông T là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông T, bà M khai sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là ông T thường xuyên cờ bạc, không lo làm ăn, mâu thuẫn vợ chồng kéo dài, vợ chồng không còn chung sống với nhau hơn 02 năm. Hội đồng xét thấy, từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập và thông báo về phiên hòa giải để vợ chồng trở về đoàn tụ với nhau nhưng ông T vẫn cố tình tránh né không đến Tòa án, không trình bày ý kiến, yêu cầu của mình. Điều này chứng tỏ ông T không có thiện chí để vợ chồng đoàn tụ, hàn gắn trở về sống chung với nhau và hai người đã không chung sống hơn 02 năm, một quãng thời gian dài mà hai bên không có biện pháp hàn gắn, mỗi người đã có cuộc sống riêng. Nhận thấy đời sống chung vợ chồng của bà M và ông T đang ở trong tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên không thể kéo dài. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

[3] Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà M và ông T có 02 con chung tên Trương Tuyết N, sinh ngày 06/11/2014 và Trương Trọng P, sinh ngày 06/12/2006. Hiện tại 02 trẻ N, P đang sống với bà M nên bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 trẻ P, N; đồng thời, trẻ P có nguyện vọng sống với bà M. Hội đồng xét thấy, yêu cầu này là phù hợp với tình hình thực tế, phù hợp với nguyện vọng của trẻ, do đó có cơ sở chấp nhận.

[4] Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét thấy chi phí ăn, uống, học tập của 02 trẻ mỗi tháng 1.500.000 đồng là thấp so với thực tế xã hội hiện nay. Do đó, bà M yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 1.500.000 đồng là hợp lý, có cơ sở chấp nhận.

Về tài sản chung: Đương sự khai không có.

Về nợ chung: Đương sự khai không có.

[5] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu quan điểm về phần thủ tục tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng dân sự theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử áp dụng, tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[6] Về án phí:

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, bà Huỳnh Kim M phải chịu.

Án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, ông Trương Văn T phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 110 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Kim M được ly hôn với ông Trương Văn T.

2. Về con chung: Giao 02 trẻ tên Trương Tuyết N, sinh ngày 06/11/2014 và Trương Trọng P, sinh ngày 06/12/2006 cho bà Huỳnh Kim M trực tiếp nuôi, ông Trương Văn T cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 1.500.000 (một triệu năm trăm ngàn) đồng. Thi hành ngay sau khi án có hiệu lực cho đến khi 02 trẻ N, P lần lượt tròn 18 tuổi.

Vì lợi ích của con chung, sau khi ly hôn bên không trực tiếp nuôi con có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền nêu trên cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về tài sản chung: Không có

4. Nợ chung: Không có.

5. Về án phí:

- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Huỳnh Kim M phải chịu là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng mà bà M đã nộp theo biên lai số 0008513 ngày 24 tháng 9 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà M đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

- Án phí cấp dưỡng nuôi con: Ông Trương Văn T phải chịu là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ