- Tranh chấp gì? "Đàm Việt H phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án: 81/2022/HS-PT Ngày 07 tháng 9 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Tạ Văn Thành
Các thẩm phán:
Ông Nguyễn Quang Vũ
Ông Phạm Văn Toàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Phương- Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2022/TLPT-HS ngày 09 tháng 8 năm 2022 do có kháng cáo của bị cáo Đàm Việt H đối với Bản án hình sơ thẩm số 21/2022/HSST ngày 04 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ H, tỉnh Phú Thọ.
Bị cáo bị kháng cáo:
Đàm Việt H; Sinh ngày: 19/8/1986, tại xã C, huyện Đ H, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Thôn HL, xã C, huyện Đ H, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: L; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Đàm Văn L, sinh năm 1964; Mẹ đẻ: Lê Thị Minh L2, sinh năm 1966; Vợ: Hà Thị C, sinh năm 1987; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, giữ từ ngày 27/10/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
Người tham gia tố tụng khác Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Anh Nguyễn Đức Q, sinh năm 1974, kinh doanh dịch vụ cho thuê xe ô tô tự lái tại nhà riêng ở khu Tân Thành, thị trấn Đ H, huyện Đ H, tỉnh Phú Thọ theo Giấy phép kinh doanh số 18C8000186/2014, đăng ký lần đầu ngày 13/6/2012, đăng ký lần hai ngày 04/7/2014. Ngày 18/8/2013, anh Q mua lại và sử dụng xe ô tô nhãn hiệu Honda Civic, màu sơn đỏ, biển số 30T-5172, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 149486, đăng ký chủ xe là Đặng Tuấn Hưng, địa chỉ: 56A Yết Kiêu, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
Chiều ngày 15/4/2018, Đàm Việt H, sinh năm 1986, ở khu HL, xã C, huyện Đ H nhờ em rể họ là anh Bùi Văn H, sinh năm 1990, ở xã Phú Lâm, huyện Đ H, lái xe taxi chở Đàm Việt H đến nhà anh Q để thuê xe ô tô tự lái. Khi đến nơi, anh Bùi Văn H giới thiệu với anh Q, Đàm Việt H là anh họ vợ của mình, nhà ở xã C. Sau khi được giới thiệu, Đàm Việt H đề nghị được thuê xe ô tô của anh Q để tự lái. Anh Q kiểm tra, xác định Đàm Việt H có giấy phép lái xe ô tô hạng C còn thời hạn nên đồng ý cho Đàm Việt H thuê xe ô tô để tự lái. Anh Q và Đàm Việt H thỏa thuận: Anh Q cho Đàm Việt H thuê chiếc xe ô tô nhãn hiệu Honda Civic, màu sơn đỏ, biển số 30T-5172, tiền thuê 1 tháng là 15.000.000đ; hết thời hạn thuê một tháng, Đàm Việt H phải đem xe ô tô về cho anh Q kiểm tra, bảo dưỡng, thay dầu và trả tiền cho anh Q. Nếu H không trả đủ tiền thuê xe ô tô cho anh Q thì phải đem xe ô tô về trả cho anh Q. Hai bên thỏa thuận miệng, không lập hợp đồng. Khi giao chiếc xe ô tô nhãn hiệu Honda Civic, màu sơn đỏ, biển số 30T-5172 cho Đàm Việt H thuê, anh Q đưa bản phô tô giấy Đăng ký xe, bản gốc giấy Chứng nhận kiểm định, bản gốc giấy chứng nhận bảo hiểm, còn thời hạn của xe ô tô biển số 30T-5172 cho Đàm Việt H.
Sau khi thuê xe ô tô của anh Q, Đàm Việt H sử dụng xe ô tô nhãn hiệu Honda Civic, biển số 30T-5172 làm phương tiện đi lại. Tháng 5/2018 và tháng 6/2018, Đàm Việt H trả đủ tiền thuê xe ô tô cho anh Q là 15.000.000đ/ tháng. Tháng 7/2018, Đàm Việt H xin giảm tiền thuê xe và trả tiền thuê xe ô tô cho anh Q là 12.000.000đ. Trong thời gian thuê xe ô tô này, ngày 09/6/2018 và ngày 19/7/2018, Đàm Việt H đem xe ô tô nhãn hiệu Honda Civic, màu sơn đỏ, biển số 30T-5172 về xưởng sửa chữa ô tô “Bình Tâm” của anh Nguyễn Văn Ba ở khu Tân Long, thị trấn Đ H, huyện Đ H để kiểm tra, bảo dưỡng theo yêu cầu của anh Q.
Ngày 20/7/2018, Đàm Việt H tự ý đem xe ô tô nhãn hiệu Honda Civic, màu sơn đỏ, biển số 30T-5172 đến cầm cố cho anh Nguyễn Tiến Phong - sinh năm 1982, ở tổ 41, khu 6, phường Vân Phú, thành phố Việt Trì để vay tiền. Hai bên thỏa thuận: Anh Nguyễn Tiến Phong cho Đàm Việt H vay 50.000.000đ; Đàm Việt H để lại xe ô tô nhãn hiệu Honda Civic, màu sơn đỏ, biển số 30T-5172 cùng bản phô tô giấy đăng ký xe, bản gốc giấy chứng nhận kiểm định, bản gốc giấy chứng nhận bảo hiểm bản gốc, còn thời hạn của xe ô tô biển số 30T-5172 để làm tin, thời hạn vay là 01 tháng. Khi cầm cố xe, H thỏa thuận nếu không có tiền chuộc xe thì anh Phong có quyền bán xe để trừ nợ. Về nguồn gốc số tiền trên anh Phong vay của anh Hoàng Thế Hanh - sinh năm 1983, ở khu 6, phường Vân Phú, thành phố Việt Trì. Anh Hanh lại vay của anh Hoàng Ngọc Phương - sinh năm 1981, ở tổ 6, khu 4, xã Thanh Đình, thành phố Việt Trì. Khi thế chấp xe ô tô biển số 30T-5172 cho anh Phong để vay tiền, Khi cầm cố, Đàm Việt H nói xe ô tô biển số 30T-5172 là xe ô tô của mình mới mua lại, xe đang thế chấp ở Ngân hàng nên chỉ có bản phô tô Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô. Hết thời hạn vay tiền, anh Phong nhiều lần liên lạc, tìm Đàm Việt H để yêu cầu trả nợ nhưng H không trả nợ để chuộc lại xe ô tô biển số 30T-5172.
Giữa tháng 8/2018, anh Q gọi điện thoại cho Đàm Việt H yêu cầu trả tiền thuê xe ô tô và đem xe ô tô về xưởng sửa chữa “Bình Tâm” để anh Q kiểm tra, bảo dưỡng, thay dầu cho xe. Vì lúc này xe ô tô đã đem cầm cố nên Đàm Việt H nói dối đang đi làm ở Hòa Bình, do mưa lũ không về được. Sau đó, anh Q nhiều lần gọi điện thoại liên lạc, tìm Đàm Việt H nhưng không được. Anh Q gọi điện cho anh Bùi Văn H nhờ thông báo cho gia đình Đàm Việt H việc H thuê xe ô tô của anh Q nhưng không đem về trả, mẹ đẻ của Đàm Việt H là bà Lê Thị Minh Luận - sinh năm 1966, ở khu HL, xã C, huyện Đ H đến gặp anh Q và trả hộ Đàm Việt H 12.000.000đ tiền thuê xe ô tô tháng 8/2018.
Tháng 9/2018, anh Q tiếp tục gọi điện thoại cho Đàm Việt H yêu cầu đem xe ô tô biển số 30T-5172 về trả nhưng vì xe ô tô H đã đem cầm cố và không có tiền để chuộc nên H không đem xe ô tô về trả được. Anh Q nói với Đàm Việt H nếu không trả xe sẽ làm đơn tố cáo đến Công an huyện Đ H, H nói với anh Q: “Anh cứ làm đơn đến Công an” và không liên lạc với anh Q nữa.
Ngày 19/02/2019, anh Q đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ H, tố giác Đàm Việt H thuê xe ô tô của anh Q nhưng không đem về trả. Công an huyện Đ H đã tạm giữ 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 149486 của xe ô tô nhãn hiệu Honda Civic biển kiểm soát 30T - 5172 do Thượng tá Tạ Văn Ký-Phó trưởng phòng CSGT Công an thành phố Hà Nội ký ngày 24/9/2009.
Sau đó mặc dù biết anh Q, anh Phong tìm để yêu cầu trả xe, chuộc xe và từ đầu năm 2020 biết Công an huyện Đ H đến nhà triệu tập để làm việc nhưng vì không có tiền chuộc xe về trả nên Đàm Việt H đã trốn tránh không liên hệ với ai và cũng không đến làm việc với cơ quan Công an.
Đầu năm 2019, anh Phong không thấy Đàm Việt H đến trả tiền để chuộc lại xe ô tô biển số 30T-5172. Anh Phong liên lạc với H nhưng không được, đến nhà H tìm nhưng không gặp. Anh Phong đã đưa xe ô tô biển số 30T-5172, bản phô tô Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, bản gốc Giấy chứng nhận kiểm định và bản gốc Giấy chứng nhận bảo hiểm của xe ô tô biển số 30T-5172 cho anh Hoàng Thế Hanh để trừ số nợ 50.000.000đ anh Phong vay anh Hanh để cho Đàm Việt H vay. Anh Hanh đưa xe ô tô biển số 30T-5172, bản phô tô Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, bản gốc Giấy chứng nhận kiểm định và bản gốc Giấy chứng nhận bảo hiểm của xe ô tô biển số 30T-5172 cho anh Hoàng Ngọc Phương để trừ số nợ 50.000.000đ anh Hanh vay anh Phương để cho anh Phong vay. Anh Phương sử dụng xe ô tô biển số 30T-5172 để tập lái. Tháng 6/2020, anh Phương không thấy ai đến chuộc lại xe ô tô biển số 30T-5172 nên nhờ anh Đỗ Ngọc Thanh - sinh năm 1987, ở tổ 41, phường Minh Phương, thành phố Việt Trì bán xe ô tô biển số 30T-5172 để thu hồi lại 50.000.000đ. Anh Phương đưa xe ô tô biển số 30T-5172 cùng bản phô tô Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, bản gốc Giấy chứng nhận kiểm định và bản gốc Giấy chứng nhận bảo hiểm của xe ô tô biển số 30T-5172 cho anh Thanh. Ngày 08/7/2020, anh Thanh bán xe ô tô biển số 30T-5172 cho anh Đặng Ngọc Hoan - sinh năm 1980, ở tổ 7, thị trấn Yên Bình, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái giá 85.000.000đ. Anh Thanh đưa cho anh Phương 50.000.000đ, giữ lại 35.000.000đ. Anh Hoan sửa chữa xe ô tô, mua bảo hiểm và đăng kiểm lại xe ô tô biển số 30T-5172 hết 51.770.000đ. Ngày 18/7/2020, anh Hoan bán lại xe ô tô biển số 30T-5172 cho anh Nguyễn Văn Hương, sinh năm 1979, ở tổ 6, phường Minh Tân, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, giá 155.000.000đ. Anh Hương đã trả cho anh Hoan 150.000.000đ, nợ lại 5.000.000đ. Anh Hương sửa chữa xe ô tô biển số 30T-5172 hết 27.300.000đ và sử dụng xe ô tô này để đi lại. Ngày 04/3/2021, anh Hương bán lại chiếc xe ô tô biển số 30T-5172 cho anh Phan Văn Chương, sinh năm 1984, ở xã Phúc Lai, huyện Đ H, tỉnh Phú Thọ, giá 190.000.000đ. Sau khi mua xe ô tô biển số 30T-5172, anh Chương đem xe ô tô về thị trấn Đ H, huyện Đ H sửa chữa thì bị Công an huyện Đ H phát hiện, tạm giữ xe ô tô trên cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 044652 do Thượng tá Nguyễn Ngọc Mẽ - Phó trưởng phòng CSGT Công an thành phố Hà Nội ký ngày 19/10/2020.
Ngày 05/3/2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ H đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ H định giá chiếc xe ô tô nói trên, Tại kết luận định giá số 23/KL - HĐ ngày 12/3/2019 đã xác định chiếc xe ô tô trên trị giá 245.000.000đ. Sau khi định giá, ngày 05/10/2021 Công an huyện Đ H đã trả lại chiếc xe ô tô cùng giấy chứng nhận đăng ký cho anh Nguyễn Đức Q.
Ngày 10/4/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ H ra Quyết định trưng cầu giám định số 116, trưng cầu Viện khoa học hình sự Bộ Công an giám định hai giấy đăng ký xe ô tô của xe ô tô biển số 30T-5172 mà Cơ quan điều tra đã thu giữ. Ngày 23/9/2021, Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 044652, của xe ô tô con, nhãn hiệu Honda Civic, biển số 30T-5172, người ký cấp giấy chứng nhận đăng ký do Thượng tá Nguyễn Ngọc Mẽ - Phó trưởng phòng CSGT Công an thành phố Hà Nội ký ngày 19/10/2010, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ H thu giữ của anh Phan Văn Chương là Giấy chứng nhận giả. Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, số 044652, của xe ô tô con, nhãn hiệu Honda Civic, biển số 30T-5172 do Thượng tá Tạ Văn Ký - Phó trưởng phòng CSGT Công an thành phố Hà Nội, ký ngày 24/09/2009, do anh Nguyễn Đức Q giao nộp là Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô thật.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2022/HSST ngày 04 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ H, tỉnh Phú Thọ đã Quyết định:
Căn cứ: khoản 3, Điều 175, Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo Đàm Việt H phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
Xử phạt: bị cáo Đàm Việt H 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo từ ngày 27/10/2021.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật
Ngày 10/7/2022, bị cáo Đàm Việt H kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo bổ sung yêu cầu kháng cáo, đề nghị HĐXX xem xét định giá lại chiếc xe ô tô Honda Civic biểm kiểm soasrt 30T-5172.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 355. Điều 356 Bộ luật Hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của các bị Đàm Việt H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2022/HSST ngày 04/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ H, tỉnh Phú Thọ
Bị cáo tranh luận cho rằng anh Nguyễn Đức Q đồng ý bán cho bị cáo chiếc xe ô tô Honda Civic biển kiểm soát 30T-5172 với giá 135.000.000đ, nên đề nghị xem xét định giá lại chiếc xe ô tô nêu trên để xác định tình tiết định khung hình phạt đối với bị cáo.
Lời sau cùng bị cáo trình bày: Bị cáo đã biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, chỉ đề nghị HĐXX xem xét định giá lại giá chiếc xe ô tô và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định được xem xét, giải quyết.
Xét thấy vụ án xét xử bị cáo Đàm Việt H đủ điều kiện đưa ra xét xử trực tuyến theo quy định tại Nghị quyết số: 33/2021/QH15 ngày 12/11/2021 của Quốc hội về tổ chức phiên tòa trực tuyến và Quyết định số: 512/QĐ-TANDTC ngày 19/11/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số: 33/2021/QH15 ngày 12/11/2021 của Quốc hội. Do vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ quyết định đưa vụ án đối với bị cáo Đàm Việt H ra xét xử trực tuyến.
Căn cứ buộc tội đối với bị cáo:
Ngày 17/4/2018, Đàm Việt H có hành vi thuê xe ô tô nhãn hiệu Honda Civic biển kiểm soát 30T - 5172 trị giá 245.000.000đ của anh Nguyễn Đức Q ở khu Tân Thành, thị trấn Đ H, huyện Đ H, tỉnh Phú Thọ với giá 15.000.000đ/01 tháng để sử dụng đi lại. Đến ngày 20/7/2018, Đàm Việt H đã tự ý đem chiếc xe ô tô nói trên đến thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ cầm cố cho anh Nguyễn Tiến Phong lấy 50.000.000đ. Sau khi cầm cố xe ô tô, H đã sử dụng chi tiêu hết số tiền nên không chuộc lại được xe, khi biết anh Q và anh Phong tìm gặp để yêu cầu trả lại xe và chuộc lại xe ô tô nhưng H cũng không liên lạc với họ. Ngày 15/02/2019, anh Q đã làm đơn tố cáo hành vi chiếm đoạt xe ô tô của H đến Công an huyện Đ H, mặc dù biết Công an huyện Đ H triệu tập để làm việc nhưng H cũng cố tình trốn tránh không đến làm việc. Việc Đàm Việt H trốn tránh, không liên lạc với anh Q, anh Phong và trốn tránh không chấp hành việc triệu tập của Công an huyện Đ H, tỉnh Phú Thọ là để chiếm đoạt chiếc xe ô tô trị giá 245.000.000đ của anh Nguyễn Đức Q. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Như vậy, có đủ căn cứ pháp lý kết luận các bị cáo Đàm Việt H phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 175 - BLHS. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để tuyên phạt bị cáo Đàm Việt H với mức hình phạt 06 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là phù hợp với quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đề nghị định giá lại chiếc xe ô tô Honda Civic biển kiểm soát 30T-5172. Việc bị cáo đề nghị định giá lại chiếc xe ô tô nêu trên Hội đồng xét xử thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã đề nghị Hội đồng định giá xem xét lại giá nhưng không có căn cứ để xem xét lại giá. Mặt khác tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ để xem xét định giá lại chiếc ô tô. Đồng thời, bị cáo Đàm Việt H không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới để làm căn cứ cho việc kháng cáo của mình. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Vì vậy cần giữ nguyên bản án số 21/2022/HSST ngày 04/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ H, tỉnh Phú Thọ.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là phù hợp nên chấp nhận.
Về án phí: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đàm Việt H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2022/HSST ngày 04 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ H, tỉnh Phú Thọ về hình phạt chính đối với bị cáo Đàm Việt H.
[2] Điều luật áp dụng và hình phạt:
Căn cứ: khoản 3 Điều 175, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Bộ luật Hình sự 2015
Tuyên bố: Bị cáo Đàm Việt H phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
Xử phạt bị cáo Đàm Việt H 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo từ ngày 27/10/2021.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm:
Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đàm Việt H phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận - VKSND tỉnh Phú Thọ; - TAND H. Đ H; - VKSND H. Đ Hù ng; - Công an H. Đ H; - Chi cục THADS H. Đ H; - TB UBND nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo (qua trại giam); - Lưu HS; Lưu VP. CÁC THẨM PHÁN Hồ Văn Việt Vũ Anh Tuấn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Văn Thành THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Toàn |