vanban.org

Bản án 81/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 11/09/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng N phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma

38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng N 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng Nhẫn - Sử dụng trái phép chất ma túy - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng N phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 –TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2026/HS-ST
Ngày: 11-9-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hồng Châu

Ông Nguyễn Văn Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4

- Tây Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Cẩm Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh

xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 81/2026/TLST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2026/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng N, tên gọi khác: Không, sinh ngày 26/11/2002; tại Tây Ninh;

nơi cư trú: ấp V, xã M, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng C và bà Nguyễn Thị X; chưa có vợ, con; tiền án; tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/6/2026 cho đến nay tại Phân trại tạm giam

T, Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh T. Có mặt;

Người chứng kiến: Trần Hồng Châu Nhật M, sinh năm 1994. Địa chỉ: Ấp C P,

xã M, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau: Nguyễn Hoàng N là đối tượng thuộc diện quản lý cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo Quyết định cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng số 67/QĐ-UBND ngày 05/6/2025 của UBND xã L (nay là UBND xã M, tỉnh Tây Ninh) trong thời gian từ ngày 06/5/2025 đến ngày 06/5/2026. Khoảng 16 giờ ngày 02/4/2026, N đi bộ từ nhà đến xóm chùa thuộc xã B, tỉnh Tây Ninh gặp người thanh niên tên N1 (không rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá và bộ D sử dụng ma túy (nỏ) với giá 50.000 đồng. N1 giao cho N 01 nỏ thủy tinh và 01 túi nilong màu trắng, rãnh khép viền trắng, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. Sau khi N1 giao ma túy và nỏ, N trả tiền và đem ma túy về nhà tại ấp V, xã M, tỉnh Tây ninh sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy xong khoảng 02 ngày sau N đem bộ nỏ đi vứt bỏ do sợ gia đình phát hiện. Ngày 08/4/2026, C1 Y mời Nhẫn về trụ sở làm việc, qua test nhanh Nhẫn dương tính với ma túy. Lực lượng công an tiến hành thu và niêm phong mẫu nước tiểu của N để trưng cầu giám định.

Tại bản kết luận giám định số 1324/KL-KTHS ngày 28/4/2026 của Phòng K

Công an tỉnh T kết luận:

Mẫu nước tiểu ghi thu của Nguyễn Hoàng N, sinh năm 2002, ĐKTT: ấp V, xã

M, tỉnh Tây Ninh, được niêm phong gửi đến giám định có tìm thấy chất ma túy; Loại Methamphetamine.

Tại Bản Cáo trạng số 58/CT-VKSKV4 ngày 22 tháng 8 năm 2026 của Viện

kiểm sát nhân dân khu vực 4 -Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng N về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng N hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội

như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Tây Ninh truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận giám định, đồng thời không khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 –Tây Ninh tham gia phiên tòa vẫn

giữ y quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng N về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng N phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung

ngân sách Nhà nước.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của các bị cáo là vi phạm

pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh

T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4-Tây Ninh Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người chứng kiến vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình

điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

. Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Hoàng N tại phiên tòa

phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến trong quá trình điều tra, phù hợp với bản ảnh xác định nơi xảy ra vụ việc, phù hợp với Bản Kết luận giám định số 1324/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với nội dung Bản cáo trạng nên có đủ căn cứ xác định: Bị cáo Nguyễn Hoàng N thuộc diện quản lý sau cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo quy định trong thời gian từ ngày 06/5/2025 đến ngày 06/5/2026. Khoảng 16 giờ ngày 02/4/2026, bị cáo N mua ma túy và đem ma túy về nhà tại ấp V, xã M để sử dụng. Ngày 08/4/2026, Công an xã M mời bị cáo N lên test ma túy thì dương tính. Qua giám định bị cáo N dương tính với ma túy loại Methamphetamine.

Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Hoàng N

phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng N với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo Nguyễn Hoàng N là rất nguy hiểm

cho xã hội, bị cáo cũng thừa biết ma tuý là chất độc hại, gây nghiện làm tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần và thể chất con người nên Nhà nước thống nhất quản lý và nghiêm cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng vì muốn thỏa mãn cơn nghiện nên bị cáo đã mua ma túy sử dụng, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, xâm phạm đến sức khỏe và sự phát triển nòi giống của dân tộc, là tác nhân gây ra các loại bệnh, gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Do đó cần áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo hưởng

tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Hoàng N phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị

cáo Nguyễn Hoàng N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

. Xét quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị xử phạt tù và mức hình phạt đối

với bị cáo Nguyễn Hoàng N là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

. Đối với người thanh niên tên N1 (chưa rõ nhân thân lai lịch) đã bán ma

túy cho bị cáo N vào ngày 02/4/2026, qua điều tra bị cáo N cung cấp thông tin đối với thanh niên trên không đủ cơ sở xác minh. CQĐT sẽ tiếp tục làm rõ xử lý sau.

.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Nguyễn Hoàng N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng N phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma

túy”.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều

38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng N 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ

ngày 17/6/2026.

2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Nguyễn Hoàng N nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.

3. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị

cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ