vanban.org

Bản án 81/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu, tỉnh Lai Châu Tuyên án 11/03/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Xử phạt bị cáo Phan Văn S 02 năm 02 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/12/2025. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn S - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - LAI CHÂU
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2026/HS-ST
Ngày 11-3-2026.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hà Thị Thơm.

2. Ông Nguyễn Hữu Thức.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thế - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Tăng Hoàng Long - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 87/2026/TLST - HS ngày 16 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2026/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Văn S, sinh ngày 07/7/1990 tại xã T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản M, xã T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Văn M, sinh năm 1967 và bà: Hà Thị T, sinh năm 1972; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/12/2025 đến nay, bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Văn S sử dụng chất ma tuý từ năm 2020. Từ ngày 27/11/2020, Phan Văn S tự nguyện tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế M1 tại Trung tâm Y tế T1, tỉnh Lai Châu (đăng ký uống thuốc Methadone tại điểm Trạm y tế xã M, tỉnh Lai Châu).

Khoảng 13 giờ ngày 30/11/2025, S đi bộ từ nhà ở bản Mường xã M để đi làm tại bản Đội 9, xã M. Khi S đi bộ đến bản Nà Phái, xã M, tỉnh Lai Châu thì gặp một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch. Qua nói chuyện, cả hai người biết nhau đều nghiện chất ma tuý, nên người này rủ S cùng sử dụng H, S đồng ý. S và người đàn ông đi vào khu vực nghĩa trang thuộc bản Nà Phái để cùng sử dụng Heroine. Tại đây, người đàn ông lấy từ trong túi quần ra 01 (một) gói Heroine, gói bằng mảnh nilon màu hồng, 02 bơm kim tiêm, 01 lọ nước cất. Sau đó, người đàn ông chia gói Heroine vào trong 02 bơm kim tiêm và pha nước cất vào để hoà tan Heroine. Sau khi H tan hết trong nước cất, người đàn ông đưa cho S 01 bơm kim tiêm. S dùng tay trái cầm bơm kim tiêm chứa Heroine rồi chích, bơm vào ven dưới da cánh tay phải, đưa toàn bộ lượng Heroine trong bơm kim tiêm vào cơ thể. Người đàn ông cũng tự sử dụng hết số Heroine trong bơm kim tiêm còn lại bằng phương pháp tương tự. Sau khi sử dụng H, S và người đàn ông vứt bỏ bơm kim tiêm ở khu vực bụi cây. Sau đó, S xin đi nhờ xe của người đi đường đi lên bản Đội 9, xã M làm thuê, còn người đàn ông đi đâu S không biết.

Sáng ngày 03/12/2025, Phan Văn S đến uống thuốc Methadone tại điểm Trạm y tế xã M, tỉnh Lai Châu thì bị lực lượng Công an xã M tiến hành kiểm tra ma túy, bằng que test nhanh ma túy trong nước tiểu của Phan Văn S, cho kết quả “dương tính”. Công an xã M đã tiến hành lập biên bản sự việc, lấy mẫu nước tiểu của Phan Văn S, niêm phong gửi giám định.

Tại bản Kết luận giám định độc chất số 1129/KLGĐĐC-TTPY ngày 04/12/2025, của Trung tâm P kết luận: Trong mẫu nước tiểu thu giữ của Phan Văn S gửi giám định có tìm thấy chất ma túy, loại: Morphine.

Tại biên bản làm việc hồi 16 giờ 20 phút ngày 04/12/2025, Trung tâm P cho biết: Khi đối tượng sử dụng Heroine thì có chuyển hoá thành Morphine trong cơ thể.

Bản Cáo trạng số 80/CT-VKS, ngày 15/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu truy tố ra trước Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Lai Châu để xét xử Phan Văn S về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025). Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Lai Châu vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Văn S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025); điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Phan Văn S từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận gì.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:

Phan Văn S đang trong thời hạn điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế M1 tại Trung tâm Y tế T1, tỉnh Lai Châu. Khoảng 13 giờ ngày 30/11/2025, tại bản Nà Phái, xã M, tỉnh Lai Châu, Phan Văn S đã thực hiện hành vi sử dụng trái phép Heroine bằng hình thức chích. Kết quả giám định xác định trong mẫu nước tiểu của Phan Văn S tìm thấy chất ma túy, loại: Morphine, là sản phẩm chuyển hóa của H (H) trong cơ thể người.

Bị cáo Phan Văn S là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, mặc dù đang tham gia điều trị nghiện các chất ma tuý bằng thuốc thay thế và bị cáo nhận thức rõ pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép chất ma túy nhưng do bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, thiếu rèn luyện bản thân nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo Phan Văn S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025). Cáo trạng truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo không những làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn mà còn làm ảnh hưởng đến đời sống sức khỏe con người, làm gia tăng tệ nạn và các loại tội phạm khác nên cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phan Văn S không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Quan điểm đề nghị về tội danh, hình phạt đối với bị cáo Phan Văn S của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Lai Châu đối với bị cáo tại phiên toà là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án:

- Về vật chứng của vụ án: Mẫu nước tiểu của Phan Văn S đã được niêm phong gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật. Đối với chiếc bơm kim tiêm sau khi sử dụng xong Heroine thì Phan Văn S vứt tại hiện trường không thu giữ được, do vậy không xem xét xử lý.

- Đối với nguồn gốc Heroine sử dụng, Phan Văn S khai được một người không rõ lai lịch cho S để sử dụng cùng. Quá trình điều tra không xác định được người đàn ông này nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025); điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Tuyên bố bị cáo Phan Văn S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Phan Văn S 02 năm 02 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/12/2025.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phan Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ