- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Hoàng S và kháng cáo của anh Trần Thanh T là người đại diện hợp pháp của bị hại;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2026/HS-PT Ngày 30-3-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Ngầu
Các Thẩm phán: 1. Bà Phạm Thị Thanh Giang;
2. Ông Trần Thanh Tòng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Trần Khánh Duy – Thư ký Toà án Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Vi - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2026/TLPT-HS ngày 10 tháng 02 năm 2026, do có kháng cáo của bị cáo Đoàn Hoàng S và người đại diện của bị hại là anh Trần Thanh T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2025/HS-ST ngày 22 tháng 12 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh.
- Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Đoàn Hoàng S, sinh ngày 31/3/2004, tại: tỉnh An Giang; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (nay là phường T, thành phố Cần Thơ); chỗ ở hiện nay (tạm trú): số 85, Đường H, phường A, thành phố Cần Thơ; căn cước công dân số: 092204008216, cấp ngày 27/12/2024; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Hoàng T1, sinh năm 1980 và bà Trần Thị H, sinh năm 1987; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không có. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo: Anh Trần Thanh T, sinh năm 1990;
Địa chỉ cư trú: ấp A, xã T, tỉnh Tây Ninh (là con ruột của bị hại Phạm Thị B). Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ngoài ra, còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, Toà án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 28/3/2025, Đoàn Hoàng S điều khiển xe ô tô màu trắng, nhãn hiệu Huynhdai, loại xe Accent, biển số 67A-235.26 (xe Sang thuê của anh Phạm Nhật V) từ thành phố Cần Thơ đến thành phố L đón mẹ ruột là bà Trần Thị H và em gái Đoàn Thị Mai A đi núi Bà Đ tại tỉnh Tây Ninh. Suốt quãng đường đi thì bà H ngồi ở ghế phụ phía trước, còn Mai A ngồi ở hàng ghế sau. Đến khoảng 07 giờ sáng cùng ngày, S điều khiển xe đến địa phận tỉnh Tây Ninh và đang lưu thông trên đường ĐT 784 đoạn thuộc ấp T, xã T, Huyện D (nay là ấp T, xã T), tỉnh Tây Ninh thì S có cảm giác buồn ngủ và kêu bà H lấy 01 lon nước ngọt uống cho đỡ buồn ngủ rồi tiếp tục lái xe đến núi Bà Đ. Sau đó khoảng 10 phút, khi điều khiển xe đang lưu thông trên đường thì S ngủ gật và xe ô tô do S điều khiển xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 70F1-151.92 do bà Phạm Thị B, sinh năm 1972, ngụ ấp A, xã B, huyện G (nay là ấp A, xã T), tỉnh Tây Ninh điều khiển chở theo cháu Trần Thanh L, sinh năm 2020 là cháu nội bà B và xe mô tô C (không rõ biển số) do bà Trương Thị Ngọc L1, sinh năm 1982, ngụ ấp T, xã T, Huyện D (nay là ấp T, xã T), tỉnh Tây Ninh điều khiển cùng chiều phía trước. Sau khi xảy ra va chạm, S vẫn còn ngủ gật nên vẫn tiếp tục lưu thông trên đường. Lúc này bà H vỗ vai S và nói “Sang ơi, mày đụng người ta rồi” thì S giật mình thức dậy và đạp thắng dừng xe lại cách vị trí xảy ra va chạm khoảng 120m. S cùng bà H và Mai A xuống xe đi đến nơi xảy ra va chạm hỗ trợ cùng người dân đưa bà B, cháu L bị thương đến Bệnh viện đa khoa tỉnh T để cấp cứu và điều trị đến 15 giờ chiều cùng ngày thì tử vong; bà L1 được người nhà đưa đến Bệnh viện Đ1.
Quá trình điều tra, Đoàn Hoàng S đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình và đã bồi thường thiệt hại cho gia đình của bị hại.
* Tại Kết luận giám định tử thi số 538/KLGĐTT-KTHS ngày 26/42025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận nguyên nhân chết của bà Phạm Thị B do chấn thương sọ não.
* Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 30/KLTTCT-TTPY ngày 09/7/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh T đối với Trương Thị Ngọc L1 như sau: căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trương Thị Ngọc L1 tại thời điểm giám định là 01%.
* Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 33/KLTTCT-TTPY ngày 09/7/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh T đối với Trần Thanh L, như sau: căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Thanh L tại thời điểm giám định là 32%.
* Kết quả xét nghiệm mẫu máu và mẫu nước tiểu của Đoàn Hoàng S xác định: nồng độ cồn trong máu: âm tính; định tính Morphin, định tính M (THC), định tính Amphetamine: âm tính.
* Kết quả xét nghiệm mẫu máu và mẫu nước tiểu của Phạm Thị Bích N sau: nồng độ cồn trong máu: âm tính; định tính Morphin, định tính M (THC), định tính Amphetamine: âm tính.
* Kết quả xét nghiệm mẫu máu và mẫu nước tiểu của Trương Thị Ngọc L1 như sau: nồng độ cồn trong máu: trong giới hạn bình thường, định tính A1, M2, M, M1, Synthetic M2, Ketamine, C1: âm tính.
* Thông báo kết quả kiểm tra an toàn kỹ thuật phương tiện cơ giới đường bộ sau tai nạn số 21 – TB/TT7001S ngày 30-7-2025 của Trung tâm đăng kiểm 7001S thuộc Công ty Cổ phần Đ2 như sau: xe ô tô biển số 67A-235.26 không đảm bảo an toàn kỹ thuật, nguyên nhân: thân vỏ xe phía trước (bao gồm cản trước, mặt ga – lăng, nắp ca – pô trước) biến dạng (do va chạm); biển số trước xô lệch, biến dạng (do va chạm); lốp trước bên trái thủng (do va chạm).
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
+ 01 (một) xe mô tô Chaly (không rõ biển số), nhãn hiệu Honda, màu trắng, số máy CF50E – 2798932, số khung CF50 – 2798980 (Chuyển Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh T để xem xét xử lý vi phạm hành chính đối với bà Trương Thị Ngọc L1 vì điều khiển xe không có giấy chứng nhận đăng ký xe đã vi phạm điểm a khoản 2 Điều 14 Nghị định số 168/NĐ-CP ngày 26/12/2024).
+ 01 (một) giấy phép lái xe hạng B, số I, đứng tên Đoàn Hoàng S, sinh năm 2004 do Sở giao thông vận tải thành phố C cấp ngày 04/02/2025.
* Về trách nhiệm dân sự: Đoàn Hoàng S đã bồi thường 5.000.000 (năm triệu) đồng chi phí điều trị cho bà Trương Thị Ngọc L1 và bồi thường cho gia đình bà Phạm Thị B và cháu Trần Thanh L số tiền 120.000.000 (một trăm hai mươi triệu) đồng, bà L1 và anh Trần Thanh T là người đại diện hợp pháp cho bà B và cháu L, không yêu cầu bị cáo S bồi thường gì thêm.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2025/HS-ST ngày 22 tháng 12 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh đã quyết định (tóm tắt).
Tuyên bố các bị cáo Đoàn Hoàng S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Hoàng S 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự và quyền kháng cáo của bị cáo, đại diện hợp pháp bị hại theo quy định của pháp luật.
Ngày 22/12/2025 và ngày 31/12/2025, bị cáo Đoàn Hoàng S có đơn kháng cáo và kháng cáo bổ sung với nội dung xin được hưởng án treo.
Ngày 31/12/2025, người đại diện hợp pháp của bị hại là anh Trần Thanh T có đơn kháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo cho bị cáo.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Đoàn Hoàng S bày ý kiến: giữ nguyên nội dung kháng cáo và kháng cáo bổ sung, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại là anh Trần Thanh T vắng mặt: nên không có trình bày ý kiến tại phiên toà. Tuy nhiên, tại Đơn kháng cáo lập ngày 31/12/2025, anh T trình bày ý kiến, sau khi xảy ra vụ tại nạn, bị cáo S đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo thường thăm hỏi, có thiện chí và đã chủ động bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại; bị cáo S hiện đang là sinh viên, còn trẻ, phạm tội lần đầu với lỗi vô ý, có nhân thân và gia đình tốt và mong muốn tạo điều kiện để bị cáo S có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, được tiếp tục con đường học tập còn dang dỡ và trở thành người có ích cho xã hội, kính xin Toà án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo S được hưởng án treo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh trình bày ý kiến: Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đoàn Hoàng S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và người liên quan, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo S 01 (một) năm tù là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội bị cáo gây ra. Bị cáo S kháng cáo cung cấp thêm tài liệu Giấy xác nhận của Trường đại học N1 xác nhận bị cáo là sinh viên của T2. Xét thấy bị cáo S có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; có nơi cư trú rõ ràng, đủ đều kiện dể được hưởng án treo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Hoàng S và người đại diện hợp pháp của bị hại, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt 01 năm tù và cho bị cáo S được hưởng án treo.
Bị cáo Đoàn Hoàng S không trình bày ý kiến tranh luận.
Bị cáo S nói lời nói sau cùng: bị cáo kính xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo và kháng cáo bổ sung của bị cáo Đoàn Hoàng S lập ngày 22/12/2025 và ngày 31/12/2025; đơn kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại gửi Toà án cấp sơ thẩm còn trong thời hạn luật định; nội dung đơn kháng cáo hợp lệ phù hợp với quy định tại Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Hành vi của bị cáo thực hiện:
Tại phiên toà, bị cáo Đoàn Hoàng S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: vào khoảng 07 giờ ngày 28/3/2025, tại ấp T, xã T, Huyện D (nay là ấp T, xã T), tỉnh Tây Ninh, do điều khiển xe trong nhiều giờ liên tục, quãng đường xa (từ tỉnh An Giang đến tỉnh Tây Ninh) dẫn đến việc Đoàn Hoàng S đã ngủ gật khi đang điều khiển xe dẫn đến va chạm vào xe mô tô biển số 70F1-151.92 do bà Phạm Thị B điều khiển chở phía sau là cháu Trần Thanh L và xe C2 (không biển số) do bà Trương Thị Ngọc L1 điều khiển chạy cùng chiều phía trước. Hậu quả bà B tử vong do chấn thương sọ não, cháu L bị thương tích 32% và bà L1 bị thương tích 01%.
Hành vi của Đoàn Hoàng S đã vi phạm vào khoản 28 Điều 9 và khoản 1 Điều 12 của Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ, làm chết 01 người. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đoàn Hoàng S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Đoàn Hoàng S và anh Trần Thanh T là người đại diện hợp pháp cho bị hại, thấy rằng:
Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã có xem xét bị cáo S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của gia đình bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đại diện hợp pháp của bị hại xin bãi nại và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo S 01 (một) năm tù là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội bị cáo gây ra.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo S nộp bổ sung thêm tài liệu Giấy xác nhận của Trường đại học N1, xác nhận bị cáo là sinh viên lớp DH22OTO07 khoá 10(2022-2026) của T2, ngành học Công nghệ kỹ thuật ô tô, khoa Cơ khí – Động lực. Ngoài ra, đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo xin cho bị cáo S được hưởng án treo để bị cáo S có điều kiện tiếp tục con đường học tập còn dang dỡ.
Xét thấy, bị cáo S có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, mới lần đầu phạm tội với lỗi vô ý, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, đồng thời nhằm tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục học tập, xét thấy cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo S và kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại, cho bị cáo S được hưởng án treo cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời cũng không gây ảnh hưởng xấu đến công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Từ những phân tích trên, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Hoàng S và kháng cáo của người đại diện hợp của bị hại; chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên toà; sửa bản án sơ thẩm.
Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận, nên bị cáo Đoàn Hoàng S không phải chịu
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Hoàng S và kháng cáo của anh Trần Thanh T là người đại diện hợp pháp của bị hại;
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2025/HS-ST, ngày 22 tháng 12 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh.
Tuyên xử:
1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Hoàng S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
1.1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn Hoàng S 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 30/3/2026).
1.2. Giao bị cáo Đoàn Hoàng S cho Ủy ban nhan dân phường T, thành phố Cần Thơ để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhan dân phường T, thành phố Cần Thơ trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.
1.3. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
1.4. Trong thời gian thử thách, nếu người bị kết án cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
1.5. Trường hợp người bị kết án thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Đoàn Hoàng S và anh Trần Thanh T là người đại diện hợp pháp của bị hại không phải chịu.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Tây Ninh; - Phòng GĐ,KT,TT&THA TA tỉnh; - TAND khu vực 11 - Tây Ninh; - VKSND khu vực 11 - Tây Ninh; - Phòng THADS khu vực 11- Tây Ninh; - Phòng PV06, PC01 Công an Tây Ninh; -Cơ quan Thi hành án hình sự; - Phòng lý lịch STP tỉnh Tây Ninh; - Bị cáo, bị hại; - Lưu hồ sơ, tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Võ Văn Ngầu |