vanban.org

Bản án 81/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị P được ly hôn với anh Lê Văn V.

Về con chung và cấp dƣỡng nuôi con chung: Xử giao 02 cháu Lê Thanh H, sinh ngày 11/4/2020 và cháu Lê Tiến Đ, sinh ngày 15/3/2023 cho chị Lò Thị P được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi cháu trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lò Thị P - Lê Văn V"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị P được ly hôn với anh Lê Văn V.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 12/5/2026
V/v: Ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lường Tiến Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lý Thị Vinh.

2. Bà Lường Thị Thảo.

- Thư ký phiên toà: Bà Lò Thị Hiền - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2- Sơn La .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Bạc Thị Thoản - Kiểm sát viên.

Ngày 12/5/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 283/2026/TLST- HNGĐ ngày 01/4/2026 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/4/2026; Quyết định hoãn phiên tòa số: 100/2026/QĐST-HNGĐ ngày 06/5/2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị P; Sinh ngày: 15/5/1994; Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx; Nơi cư trú: Bản T, xã M, tỉnh Sơn La; Vắng mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Anh Lê Văn V; Sinh ngày: 29/4/1996; Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx; Nơi cư trú: Bản T, xã M, tỉnh Sơn La; Hiện đang chấp hành án tại Đội 21, phân trại số 1 Trại giam Yên Hạ- Cục C10 Bộ Công an; Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 30/3/2026, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt tại Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La. Nguyên đơn chị Lò Thị P trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Văn V kết hôn với nhau từ ngày 21/3/2018 tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Nam Định (nay là UBND xã H, tỉnh Ninh Bình) kết hôn do cả hai bên cùng tự nguyện, không bên nào bị cưỡng ép, lừa dối. Sau khi kết hôn chị và anh V chung sống hoà thuận hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng bị rạn nứt. Nguyên nhân chính phát sinh mâu thuẫn là do anh V thường hay cờ bạc, đến tháng 3 năm 2024 bị bắt về tội Trộm cắp tài sản hiện đang thi hành án phạt tù tại tại Đội 21, phân trại số 1 Trại giam Yên Hạ- Cục C10 Bộ Công an. Hiện đã ly thân từ năm 2024 cho đến nay không ai quan tâm đến ai. Chị P nhận thấy cuộc hôn nhân này không còn hạnh phúc nên đã viết đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Văn V.

- Về con chung, cấp dƣỡng nuôi con chung: Trong thời gian chung sống anh, chị có 02 con chung: Cháu Lê Thanh H, sinh ngày 11/4/2020 và cháu Lê Tiến Đ, sinh ngày 15/3/2023. Nay ly hôn do chị P có điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng 02 cháu, nguyện vọng của chị P là được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 cháu cho đến khi cháu trưởng thành. Chị P không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về tài sản riêng: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

* Tại bản tự khai ngày 09/4/2026 (có xác nhận của Trại giam Yên Hạ - Cục C10 Bộ Công an) anh Lê Văn V khai xác nhận:

- Về quan hệ hôn nhân: Quá trình kết hôn giữa anh và chị Lò Thị P như lời khai của chị P là đúng. Về nguyên nhân đúng như chị P khai. Anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn không đồng ý ly hôn với chị Lò Thị P.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống anh, chị có 02 con chung đúng như chị P khai. Anh V tạm thời nhất trí để chị P là người được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 cháu. Đến tháng 11 năm 2026 sau khi chấp hành xong án phạt tù anh sẽ làm đơn xin lại quyền nuôi con.

- Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: Không có, đúng như chị P khai.

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ chị P không cung cấp thêm chứng cứ cho Tòa án và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người làm chứng, người tham gia tố tụng. Nguyên đơn chị P đề nghị không tiến hành hòa giải và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến trước khi ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Thụ lý đúng thẩm quyền tại Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ pháp luật, xác định đầy đủ tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ đầy đủ đúng quy định. Đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, gửi kịp thời các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho những người tham gia tố tụng theo quy định tại các Điều 97, Điều 195, Điều 196, Điều 198, Điều 203, Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa đã thực hiện theo đúng quy định tại Điều 51, Điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về sự vắng mặt của nguyên đơn chị Lò Thị P, bị đơn anh Lê Văn V: Chị P, anh V đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt là đảm bảo, đúng quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 177, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 của Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Đề nghị:

- Về hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị P được ly hôn với anh Lê Văn V.

- Về con chung: Giao 02 cháu Lê Thanh H, sinh ngày 11/4/2020 và cháu Lê Tiến Đ, sinh ngày 15/3/2023 cho chị Lò Thị P được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Lê Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con chung, có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lò Thị P.

* Những yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về pháp luật tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết: Chị Lò Thị P khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Lê Văn V nên xác định quan hệ pháp luật là vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Lê Văn V có nơi cư trú tại xã Mường Khiêng, tỉnh Sơn La do vậy thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 của Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về thủ tục hòa giải: Nguyên đơn chị Lò Thị P có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, do vậy vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.3] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Lò Thị P, bị đơn anh Lê Văn V đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt là đảm bảo, đúng quy định pháp luật.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị P anh Lê Văn V kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn từ ngày 21/3/2018 tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Nam Định (nay là UBND xã H, tỉnh Ninh Bình). Căn cứ Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Lò Thị P anh Lê Văn V là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thấy, cuộc hôn nhân giữa chị Lò Thị P anh Lê Văn V có mâu thuẫn, hiện nay anh, chị đã không còn tồn tại cuộc sống chung và không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Căn cứ Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình xét thấy tình trạng hôn nhân của chị Lò Thị P anh Lê Văn V đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc quyết định cho chị P ly hôn anh V là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, việc anh V không nhất trí ly hôn là không có căn cứ chấp nhận.

. Về con chung: Trong thời gian chung sống anh, chị có 02 con chung: Cháu Lê Thanh H, sinh ngày 11/4/2020 và cháu Lê Tiến Đ, sinh ngày 15/3/2023. Nay ly hôn, nguyện vọng của chị P là được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 cháu cho đến khi cháu trưởng thành. Chị không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ý kiến anh V nhất trí với ý kiến chị P sau khi chấp hành xong án phạt tù anh sẽ làm đơn xin lại quyền nuôi con.

Hội đồng xét xử căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của các con, đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên, xem xét chị P có điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con hàng ngày. Chị P có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 cháu cho đến khi các cháu trưởng thành. Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo quyền lợi cho cháu cần giao 02 cháu Lê Thanh H và cháu Lê Tiến Đ cho chị P được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các cháu là hợp tình, hợp lý để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho các cháu có những điều kiện cho sự phát triển về thể chất và tinh thần, tâm sinh lý. Chị P không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung là có căn cứ cần được chấp nhận, sau khi ly hôn anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó căn cứ Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

.Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

. Về án phí: Chị Lò Thị P là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lò Thị P.

. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 177, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 của Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị P được ly hôn với anh Lê Văn V.

2. Về con chung và cấp dƣỡng nuôi con chung: Xử giao 02 cháu Lê Thanh H, sinh ngày 11/4/2020 và cháu Lê Tiến Đ, sinh ngày 15/3/2023 cho chị Lò Thị P được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi cháu trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

Anh Lê Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lò Thị P.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Lò Thị P, anh Lê Văn V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ