- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn (T-N)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T.
- Căn cứ chính? Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 Thành lập Tòa án nhân dân cấp…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2026/HNGĐ-ST Ngày: 13 - 5 - 2026 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Diê ̣u.
Bà Pha ̣m Thi ̣ Ha ̣nh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ.
Ngày 13 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 97/2026/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 3 năm 2026 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 219/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 164/2026/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông T. Địa chỉ: Khu phố A1, phường B1, thành phố Đồng Nai. (vắng mặt, có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Bà N. Địa chỉ: Ấp A, xã B, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/3/2026, nguyên đơn ông T trình bày: Ông T và bà N có tổ chức lễ cưới vào năm 2019 và đăng ký kết hôn vào ngày 28/02/2019 tại Ủy ban nhân dân phường B1, thị xã C, tỉnh Bình Phước (nay là phường B1, thành phố Đồng Nai). Sau khi kết hôn, thời gian đầu hai người chung sống rất hạnh phúc, nhưng sau này giữa hai người bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, tuy đã có nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả và đã sống ly thân từ năm 2024 cho tới nay.
Nay nhận thấy đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông T yêu cầu Tòa án giải quyết:
+ Về hôn nhân: Ông T yêu cầu được ly hôn với bà N.
+ Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có, nên ông T không yêu cầu giải quyết.
Ông T đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
- Bị đơn bà N: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà N nhưng bà N không có mặt tham gia tố tụng theo các giấy triệu tập của Tòa án và cũng không có ý kiến trình bày hay yêu cầu gì trong vụ án này.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T vắng mặt nhưng trong văn bản đề nghị xét xử vắng mặt thì ông T vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Theo đơn khởi kiện, về hôn nhân, ông T yêu cầu được ly hôn với bà N; về con chung, tài sản chung, nợ chung, ông T không yêu cầu giải quyết; Tòa án nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật ly hôn là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ không có tiến hành thu thập chứng cứ và vụ án không thuộc các trường hợp khác theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ không tham gia phiên tòa sơ thẩm.
Bị đơn bà N có địa chỉ cư trú tại ấp A, xã B, thành phố Cần Thơ; Tòa án nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15, ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T vắng mặt nhưng có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bà N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do và không thuộc trường hợp sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, việc vắng mặt cũng không ảnh hưởng đến việc xét xử; Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà N là những người có đủ điều kiện kết hôn, hai người đã tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường B1, thị xã C, tỉnh Bình Phước (nay là phường B1, thành phố Đồng Nai) cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 28/02/2019, nên quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà N là hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, ông T trình bày sau khi kết hôn, thời gian đầu hai người chung sống rất hạnh phúc, nhưng sau này giữa hai người bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, tuy đã có nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả và đã sống ly thân từ năm 2024 cho tới nay… nên ông T yêu cầu được ly hôn với bà N. Sau khi thụ lý vụ án, mặc dù bà N biết được việc ông T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà N nhưng trong những lần Tòa án mời hòa giải thì bà N đều vắng mặt, từ đó mà Tòa án đã không tiến hành hòa giải được; hiện nay giữa ông T và bà N cũng không tìm ra được cách thức để hàn gắn tình cảm và khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng có thể đoàn tụ với nhau. Như vậy, việc ông T và bà N phát sinh nhiều mâu thuẫn và hiện nay đã sống ly thân với nhau, mỗi người sống ở một nơi và không còn tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau cũng như thực hiện các quyền, nghĩa vụ khác của vợ chồng, mặc dù đã được Tòa án hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không hàn gắn được cho thấy quan hệ hôn nhân giữa hai người đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hiện nay, ông T vẫn kiên quyết yêu cầu được ly hôn với bà N. Vì vậy, việc ông T yêu cầu được ly hôn với bà N là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và giải quyết cho ông T được ly hôn với bà N.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Ông T trình bày không có và không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn: Ông T không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Ông T phải chịu án phí sơ thẩm với số tiền 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15, ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông T được ly hôn với bà N. (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 19 ngày 28/02/2019 do Ủy ban nhân dân phường B1, thị xã C, tỉnh Bình Phước, nay là phường B1, thành phố Đồng Nai cấp)
1.2. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Ông T trình bày không có và không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
1.3. Về cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn: Ông T không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
2. Về án phí sơ thẩm: Ông T phải chịu án phí sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm mà ông T đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004576, ngày 11 tháng 3 năm 2026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Như vậy, ông T đã thực hiện xong nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự (02); - VKSND KV10-CT (01); - THADS thành phố Cần Thơ (01); - TAND thành phố Cần Thơ (01); - UBND phường B1 (01); - Lưu HSVA, Văn phòng (02). | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Việt |