- Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Điểm a, b khoản 2 Điều 260; Điều 47, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2025/HS-ST THÀNH PHỐ THUẬN AN Ngày 24 – 4 - 2025 TỈNH BÌNH DƢƠNG |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc .
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Ngọc Phƣơng
2. Ông Lê Văn Công
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 71/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1999, tại tỉnh Hậu Giang, số căn cƣớc công dân số 093099005547; thƣờng trú tại: Ấp S, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng C, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1966; bị cáo chƣa có vợ con, bị cáo có 04 anh em, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2003, bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04 tháng 12 năm 2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng H: Luật sƣ Nguyễn Thiện Đ làm việc tại Công ty L thuộc đoàn Luật sƣ Thành phố H; địa chỉ: D, phƣờng B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị hại: Ông Nguyễn Quang D, sinh năm 1986; trú tại: Thôn Đ, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định.
Ngƣời đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quang M, sinh năm 2001; trú tại: Thôn Đ, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định, có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Luật sƣ Trần Văn S1 làm việc tại Văn phòng L1 cộng sự thuộc đoàn Luật sƣ Thành phố H, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thế H1; thƣờng trú: Xã S, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 25/12/2021, sau khi đi ăn, uống bia xong thì Nguyễn Hoàng H điều khiển xe mô tô biển số 52N6-5309 đi về nhà. H điều khiển xe mô tô lƣu thông trên đƣờng C, hƣớng từ cầu B về Cầu N. Khi H lƣu thông đến đoạn đƣờng thuộc khu phố B, phƣờng B, thành phố T do H điều khiển xe trong tình trạng say rƣợu, bia trong máu có nồng độ cồn là 53.09 mmol/l tƣơng đƣơng 244,63 mg/100 ml, lƣu thông không đúng làn đƣờng lấn trái và bản thân H không có giấy phép lái xe nên xe mô tô biển số 52N6-5309 do H điều khiển đã xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 73B1-027.18 do Nguyễn Quang D điều khiển lƣu thông theo hƣớng ngƣợc lại, làm hai xe mô tô đổ ngã, va chạm với mặt đƣờng. Nguyễn Quang D bị thƣơng tích, đƣợc đƣa đi Bệnh viện cấp cứu, hai xe mô tô bị hƣ hỏng.
Vật chứng tạm giữ là xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, màu sơn: nâu, biển số: 73B1-027.18, số máy: 73B102718, số khung: 73B102718 và Xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, màu sơn: nâu, biển số: 52N6-5309, số máy: 150FM199019128, số khung: LAAXCGLA1X0015216.
Khám hiện trƣờng là đƣờng C đƣợc trải nhựa phẳng, thẳng rộng 8,7m ở giữa có vạch sơn liền nét chia thành hai phần đƣờng xe chạy, phân đƣờng bên phải hƣớng từ cầu B về cầu N rộng 4,2 mét.
+ Lấy điểm mốc là trụ điện bê tông số 11.
Lấy mép đƣờng bên phải hƣớng từ cầu B về cầu N làm chuẩn, xác định:
+ Số 1 là xe mô tô biển số 73B1-027.18.
+ Số 2 là xe mô tô biển số 52N6-5309.
+ Số 3 là vết cày xe mô tô biển số 52N6-5309.
+ Số 4 là vết máu nạn nhân.
+ Mô tả theo số thứ tự các vị trí, dấu vết, phƣơng tiện.
Xe mô tô biển số 73B1-027.18 ngã về bên phải, đầu xe quay về hƣớng cầu N trục bánh trƣớc và trục bánh sau lần lƣợt cách mép đƣờng chuẩn là 1,3m và 1,1m.
Xe mô tô biển số 52N6-5309 ngã về bên phải, đầu xe quay về mép đƣờng chuẩn, trục bánh trƣớc cách mép đƣờng là 1,6m và cách trục bánh sau xe mô tô biển số 73B1-027.18 là 0,6m, trục bánh sau cách mép đƣờng chuẩn là 2,7m và cách điểm mốc là 11,6m.
Vết cày xe mô tô biển số 52N6-5309 dài 1,4m, đầu vết cày cách mép đƣờng chuẩn là 1,8m, cuối vết cày nằm dƣới gác chân sau bên phải xe.
Vết máu nạn nhân có tâm cách mép đƣờng chuẩn là 0,1m và cách trục bánh sau xe mô tô 73B1-027.18 là 1,3m.
Vết máu nạn nhân có tâm cách mép đƣờng chuẩn là 2,9m và cách trục bánh sau xe mô tô 52N6-5309 là 3,3m.
Khám nghiệm phƣơng tiện thì đối với xe mô tô biển số 73B1-027.18 thì bể vỡ nhựa ốp đầu xe; bung đèn chiếu sáng; bể vỡ đèn tín hiệu trƣớc bên trái; bung ốp đèn trƣớc bên phải; bể vỡ mặt nạ xe; bể vỡ dè chắn bùn trƣớc; cong gun chẳng ba xe vào trong; cong vành bánh trƣớc, bể bánh trƣớc; vỡ ốp nhựa, trầy thành phuộc trƣớc bên trái; vỡ lốc máy bên trái; cong cần đạp số và gác chân trƣớc bên trái về sau; Trầy xƣớc gác chân trƣớc bên phải.
Đối với xe mô tô biển số 52N6-5309 thì bể vỡ ốp nhựa đầu xe; bể vỡ đèn chiếu sáng và tín hiệu trƣớc; bể vỡ mặt nạ xe; bể vỡ dè chắn bùn trƣớc; cong chẳng ba xe; cong vành bánh trƣớc, vỡ bánh trƣớc; bể vỡ bửng bên phải và bên trái; cong cần đạp số và gác chân trƣớc bên trái về sau; trầy xƣớc tay cầm bên phải; trầy xƣớc gác chân trƣớc bên phải; gãy gác chân sau bên phải.
Căn cứ Kết luận giám định số 180/KL-KTHS(CH) ngày 10 tháng 5 năm 2022 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận cơ chế hình thành dấu vết nhƣ sau:
Dấu vết va chạm giữa xe mô tô hai bánh biển số 52N6-5309 và xe mô tô hai bánh biển số 73B1-027.18 bao gồm các dấu vết trƣợt xƣớc, vỡ khuyết ốp nhựa đầu xe, mặt nạ trƣớc, chắn bùn bánh trƣớc, cong biến dạng vành bánh trƣớc, cong ép phuộc trƣớc bên trái và cong ngƣợc cần số xe mô tô biển số 52N6-5309, có chiều từ trƣớc về sau phù hợp với các dấu vết trƣợt xƣớc, vỡ khuyết ốp nhựa đầu xe, mặt nạ trƣớc, chắn bùn bánh trƣớc, cong biến dạng vành bánh trƣớc, cong ép phuộc trƣớc bên trái và vỡ khuyết cạnh trái đầu lốc máy, cong ngƣợc cần số xe mô tô biển số 73B1-027.18 có chiều từ trƣớc về sau.
Cơ chế hình thành dấu vết va chạm giữa hai phƣơng tiện là: Phần phía trƣớc bên trái xe mô tô biển số 52N6-5309 va chạm vào phần phía trƣớc, bên trái xe mô tô biển số 73B1-027.18 (nhƣ mục 1, phần V) theo hƣớng ngƣợc chiều, làm hai xe mô tô đổ ngã sang phải, va chạm với mặt đƣờng tạo ra dấu vết trên hai phƣơng tiện.
Vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phƣơng tiện chiếu xuống mặt đƣờng là Khu vực phía trƣớc đầu vết cày số 3 trên Sơ đồ hiện trƣờng.
Căn cứ Kết quả định giá tài sản số 196/KL-HĐĐGTS ngày 12/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T kết luận: Tổng giá trị thiệt hại của xe mô tô hai bánh biển số 73B1-027.81 do tai nạn giao thông gây ra là 2.545.000 đồng.
Kết quả giám định thƣơng tích: Căn cứ Kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 820/2022/GĐPY ngày 30/11/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh B đối với Nguyễn Quang D xác định nhƣ sau:
Dấu hiệu chính qua giám định, chấn thƣơng sọ não, xuất huyết dƣới nhện, máu tụ ngoài màng cứng thái dƣơng trái, nứt sọ trán thái dƣơng trái, tụ khí nội sọ, nứt xƣơng đá phải, gãy cung gò má trái, gãy thành trƣớc xoang hàm trái, đã điều trị nội khoa. Hiện tại còn hình ảnh tổn thƣơng não cũ trên CT scan. Di chứng: Yếu liệt nửa ngƣời trái, sức cơ tay trái 3/5, chân trái 4/5, suy nhƣợc thần kinh mức độ trung bình. Chấn thƣơng trật khớp quay trụ trên trái đã nắn trật, gãy hở xƣơng đốt xa ngon IV bàn tay trái đã can. Vết thƣơng vùng chẩm phải 4x2 cm, vết thƣơng lóc da vùng đỉnh-thái dƣơng trái 4,5x 3 cm, vết thƣơng gò má trái 2,5x 0,1cm, sẹo lành.
Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên cho ông D hiện tại là: 69%.
Cáo trạng số 71/CT-VKS-TA ngày 06 tháng 3 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng H về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ theo điểm a,b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và xác định:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tác động gia đình tự nguyện bồi thƣờng một phần thiệt hại, tại phiên tòa đại diện bị hại yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo .
Kiểm sát viên đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng H mức án từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) tù.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa đại diện bị hại và bị cáo đã thỏa thuận đƣợc mức bồi thƣờng là 330.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô biển số: 73B1-027.18 do Nguyễn Quang D điều khiển, quá trình điều tra xác định D mua lại từ cửa hàng bán xe cũ trên địa bàn tỉnh Bình Dƣơng không nhớ rõ tên, địa chỉ, do xe cũ nên D không làm thủ tục sang tên, đổi chủ. Tiến hành xác minh nguồn gốc xe, xác định ông Nguyễn Thế H1 là ngƣời đứng tên đăng ký xe, tiến hành làm việc ông H1 cho biết đã bán xe cho một cửa hàng sửa chữa xe tại tỉnh Bình Dƣơng vào năm 2019. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tra cứu xe vật chứng nhƣng không có kết quả; thông báo truy tìm chủ sở hữu nhƣng không ai liên hệ làm việc. Nhận thấy cần tiếp tục giao xe cho Cơ quan cảnh sát điều tra để tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
Đối với xe mô tô biển số 52N6-5309 do Nguyễn Hoàng H điều khiển, quá trình điều tra xác định H mua lại từ một ngƣời thanh niên không rõ lai lịch, địa chỉ trong quá trình đi làm phụ hồ. Do xe cũ nên H không làm thủ tục sang tên, đổi chủ. Tiến hành tra cứu thông tin phƣơng tiện thì không có dữ liệu đối với xe mô tô trên. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã thông báo truy tìm chủ sở hữu nhƣng không ai liên hệ làm việc. Nhận thấy cần tiếp tục giao xe cho Cơ quan cảnh sát điều tra để tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
Luật sƣ Nguyễn Thiện Đ bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng H trình bày: Thống nhất các tình tiết giảm nhẹ của đề nghị Viện kiểm sát, tuy nhiên Hội đồng xét xử xem xét tình tiết gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, khi gây ra tai nạn thì bị cáo bị thƣơng tích rất nặng nên hiện nay sức khỏe có phần suy giảm. Ngoài ra tại phiên tòa bị cáo tự nguyện thỏa thuận mức bồi thƣờng nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt thấp hơn mức vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trình bày: Thống nhất theo lời bào chữa cho bị cáo, tại phiên tòa bị cáo có thiện chí bồi thƣờng cho bị hại nên yêu cầu hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện kiểm sát truy tố. Lời nói sau cùng bị cáo đã ăn năn hối cải, bị cáo xin lỗi gia đình bị hại và xin Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt thấp nhất để có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.
Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Hoàng H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tình tiết nhƣ bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trƣờng, sơ đồ hiện trƣờng tai nạn giao thông, phù hợp với lời khai của ngƣời làm chứng và các tài liệu chứng cứ liên quan đến vụ án. Hội đồng xét xử có cơ sở nhận định Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 25/12/2021, Nguyễn Hoàng H điều khiển xe mô tô biển số 52N6-5309 lƣu thông trên đƣờng C, hƣớng từ cầu B về Cầu N, khi H lƣu thông đến đoạn đƣờng thuộc khu phố B, phƣờng B, thành phố T do H điều khiển xe trong tình trạng say rƣợu, bia trong máu có nồng độ cồn là 53.09 mmol/l tƣơng đƣơng 244,63 mg/100 ml, lƣu thông không đúng làn đƣờng lấn trái và không có giấy phép lái xe theo quy định nên xe mô tô do H điều khiển xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 73B1-027.18 do Nguyễn Quang D điều khiển lƣu thông theo chiều ngƣợc lại gây tai nạn giao thông. Hậu quả sau tai nạn Nguyễn Quang D bị thƣơng tích với tỷ lệ thƣơng tật 69%. Bị cáo tham gia giao thông có nồng độ cồn trong ngƣời vƣợt quá quy định, không có giấy phép lái xe nên bị cáo không làm chủ đƣợc hành vi của mình nên dẫn đến hậu quả ông D bị thƣơng tích bị thƣơng tích với tỷ lệ thƣơng tật 69% nên bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật. Mức đề nghị hình phạt của Kiểm sát viên đối với bị cáo là phù hợp với hành vi bị cáo đã thực hiện.
Về tính chất, mức độ của hành vi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn giao thông, gây thiệt hại sức khỏe của ngƣời khác, gây ảnh hƣởng cho ngƣời và phƣơng tiện tham gia giao thông đƣờng bộ. Bị cáo nhận thức đƣợc hành vi của mình là trái pháp luật nhƣng nghĩ không xảy ra hậu quả nhƣng thực tế xảy ra tai nạn làm bị hại bị thƣơng tật, lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc tƣơng xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần áp dụng mức hình phạt tƣơng ứng với tính chất, mức độ, hậu quả tội phạm, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tác động gia đình bồi thƣờng một phần thiệt hại, khắc phục hậu quả; đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tại phiên tòa là phù hợp. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình khó khăn, sau khi tai nạn sức khỏe bị cáo suy yếu nên cần giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Lời bào chữa của vị Luật sƣ và trình bày của ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại đồng ý số tiền bị cáo bồi thƣờng 330.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô biển số: 73B1-027.18 do Nguyễn Quang D điều khiển do chƣa xác định đƣợc chủ sở hữu hợp pháp nên cần tiếp tục giao xe cho Cơ quan cảnh sát điều tra để tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
Đối với xe mô tô biển số: 52N6-5309 do Nguyễn Hoàng H điều khiển do chƣa xác định đƣợc chủ sở hữu hợp pháp nên cần tiếp tục giao xe cho Cơ quan cảnh sát điều tra để tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm a, b khoản 2 Điều 260; Điều 47, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Điều Điều 592 Bộ luật Dân sự 2015
- Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 04 tháng 12 năm 2024.
2. Về xử lý vật chứng:
- Giao 01 xe mô tô kiểu dáng Dream, nhãn hiệu Honda, màu sơn nâu, biển kiểm soát 52N6-5309, số khung LAAXCGLA1X0015216, số máy 150FM199019128 cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiếp tục điều tra truy tìm chủ sở hữu và giải quyết theo thẩm quyền.
- Giao 01 xe mô tô, kiểu dáng Dream, nhãn hiệu Honda, màu sơn nâu, biển kiểm soát 73B1-027.81, số khung 73B102718 cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiếp tục điều tra truy tìm chủ sở hữu và giải quyết theo thẩm quyền.
Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 27/02/2025.
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng H phải bồi thƣờng cho ông Nguyễn Quang D số tiền 330.000.000 đồng (Ba trăm ba mƣơi triệu đồng).
Kể từ ngày ngƣời đƣợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, nếu ngƣời phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 16.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định pháp luật ./.
5. Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Lê Thị N | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |