vanban.org

Bản án 81/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 15/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về trách nhiệm hình sự:

1 Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Vi Văn Q 03 (ba) năm 9 (chín) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 05/01/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Q, H phạm tội mua bán ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2025/HS-ST
Ngày: 15-5-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Văn Ngôn

2. Ông H Hải

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Duy Tuyên- Thư ký Toà án nhân dân thị xã Việt Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Tươi- Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 79/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Vi Văn Q, sinh năm 1996; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Bản Thanh Phong 1, xã Mường Nọc, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông: Vi Văn Thái; Con bà: Hà Thị Hoa; Gia đình có 03 chị em bị cáo là con thứ ba; Vợ: Vi Thị Lý; Con: Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2025 đến nay; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh Bắc Giang (có mặt).

2. Lương Huy H, sinh năm 2005; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn Khuôn Dầu, xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Lương Văn Ngộ; Con bà: H Thị Muộn; Gia đình có 03 anh em bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự, tiền án, nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2025 đến nay; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh Bắc Giang (có mặt).

* Người làm chứng: Bà Lê Thị T, sinh năm 1973 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ dân phố My Điền 1, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 40 phút ngày 05/01/2025, tại khu nhà trọ của bà Lê Thị T, sinh năm 1973, ở tổ dân phố My Điền 1, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, Công an phường Hồng Thái phối hợp với Công an phường Nếnh, thị xã Việt Yên bắt quả tang Lương Huy H, sinh năm 2005, trú tại thôn Khuôn Dầu, xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đang đứng ở cổng nhà trọ để bán ma túy cho người khác. Tiếp đó, Công an đưa H lên phòng trọ số 15 nơi H đang thuê trọ tại nhà bà T, phát hiện bắt giữ được Vi Văn Q, sinh năm 1996, trú tại bản Thanh Phong 1, xã Mường Nọc, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An đang ở trong phòng và khai nhận vừa bán ma túy Heroine cho H. Sau đó, Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H và Q.

Tang vật thu giữ: Thu tại lòng bàn tay trái của H: 03 gói giấy, gồm: 02 gói giấy bạc và 01 gói giấy bằng vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “Thăng Long” bên trong đều đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT 1”; số tiền 600.000 đồng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT2”; 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7, số Imei1: 355339080550554, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT3”. Thu trên mặt giường trong phòng trọ của H: 01 gói giấy (dạng mảnh bìa vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “Thăng Long”) bên trong đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT 1”; 02 cân tiểu ly điện tử màu bạc và 02 con dao tem có chữ Croma, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT4”. Thu trên người Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT5”.

Công an phường Hồng Thái tiến hành kiểm tra việc sử dụng chất ma túy đối với H, Q bằng que test, kết quả cả hai đều dương tính với chất ma túy Mor. Sau đó, Công an phường Hồng Thái đã bàn giao H, Q cùng vật chứng và tài liệu có liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Việt Yên để giải quyết theo thẩm quyền.

Cùng ngày 05/01/2025, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp phòng trọ của Lương Huy H, và phòng trọ của Q đang thuê trọ tại tổ dân phố Ninh Khánh, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang nhưng không thu giữ được tài sản, đồ vật liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra hai chiếc điện thoại di động thu giữ của Q, H nêu trên; kết quả thu giữ tại tài khoản zalo trong hai điện thoại (zalo của H có tên “Lò A Lù”, của Q có tên “Ok Rôi Do” có tin nhắn liên quan đến mua bán ma túy với nhau trong ngày 05/01/2025.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Việt Yên trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang giám định chất ma túy đối với số vật chứng nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT1” thu giữ nêu trên.

Tại Kết luận giám định số 90/KL-KTHS ngày 12/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: “Trong 01 phong bì ký hiệu “QT1” được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng được đựng trong 03 (ba) gói giấy (trong đó có 02 (hai) gói giấy bạc, 01 (một) gói giấy là vỏ bao thuốc lá Thăng Long) đều là ma túy, loại Heroine (Heroin), tổng khối lượng 0,132 gam. Chất cục bột màu trắng được đựng trong 01 (một) gói giấy (dạng mảnh bìa vỏ bao thuốc lá Thăng Long) là ma túy, loại Heroine (Heroin), khối lượng 2,377 gam”.

Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận: Vi Văn Q và Lương Huy H đều là người sử dụng ma túy, quen biết nhau. H thuê ở trọ tại phòng trọ số 15 nhà trọ của bà Lê Thị T, sinh năm 1973, ở tổ dân phố My Điền 1, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; Q thuê ở trọ tại tổ dân phố Ninh Khánh, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Do thiếu tiền chi tiêu, Q, H nảy sinh ý định mua ma túy Heroine rồi đem bán lại cho người khác để thu lợi, nhưng không mua bán ma túy chung với nhau.

Khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, H sử dụng tài khoản zalo “Lò A Lù” cài đặt trên điện thoại Iphone 7 gọi điện, nhắn tin đến tài khoản zalo “Ok Rôi Do” của Q cài đặt trên điện thoại Oppo hỏi mua 1.500.000 đồng ma túy Heroine thì Q đồng ý bán. Cả hai thỏa thuận Q mang ma túy đến phòng trọ của H để giao dịch mua bán. Sau đó, Q đi bộ từ nhà trọ đến đoạn đường ở khu vực cầu vượt Đình Trám thuộc địa phận tổ dân phố My Điền 2, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tìm mua ma túy Heroine để bán cho H. Tại đây, Q gặp và mua được của một người đàn ông không biết họ tên, địa chỉ, mặt đeo khẩu trang 01 gói ma túy Heroine gói bằng vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “Thăng Long” với số tiền 1.200.000 đồng. Người bán ma túy bỏ đi chỗ khác, thì Q lấy một phần ma túy mua được ra tự sử dụng. Sau đó, Q cất giấu số ma túy Heroine còn lại vào trong người rồi đi bộ mang đến phòng trọ của H để bán cho H như đã thỏa thuận. Khoảng 13 giờ cùng ngày, Q đi tới phòng trọ của H thấy chỉ có một mình H trong phòng, Q lấy toàn bộ số ma túy Heroine đem theo bán cho H với giá 1.500.000 đồng. H cầm gói ma túy để ở mặt giường, đồng thời nhận được cuộc gọi zalo của người đàn ông không biết họ tên, đị chỉ có tên zalo “Đức Anh” hỏi mua 03 gói ma túy Heroine với giá 600.000 đồng. H đồng ý bán và hẹn giao ma túy cho “Đức Anh” tại cổng nhà trọ. Sau đó, H dùng dao tem và cân tiểu ly chia một phần ma túy vừa mua của Q vào 03 gói giấy, trong đó có 02 gói giấy bạc và 01 gói bằng vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “Thăng Long”, số ma túy còn lại H vẫn để trên giường tại phòng trọ. H xóa nhật ký cuộc gọi với “Đức Anh” rồi mang theo 03 gói ma túy chia được đi ra cổng nhà trọ để bán cho “Đức Anh”, còn Q ngồi tại phòng trọ chờ H quay lại trả tiền mua ma túy. H mang 03 gói ma túy ra khu vực cổng nhà trọ chưa thấy người mua ma túy đến nên ra bãi đất trống cạnh đó lấy một ít ma túy trong số ma túy mang bán ra tự sử dụng. Sử dụng ma túy xong, H đi lại cổng nhà trọ thì gặp người đàn ông tự nói có tên zalo “Đức Anh” đến mua ma túy. Người đàn ông mua ma túy đưa cho H 600.000 đồng để mua 03 gói ma túy Heroine như đã hẹn. H cầm tiền nhưng chưa kịp giao ma túy thì bị Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng nêu trên, còn người đàn ông mua ma túy chạy thoát. Tiếp đó Công an bắt giữ được Q đang ngồi trong phòng trọ của H cùng với số ma túy còn lại H dùng để bán nhưng chưa bán được.

Tại Bản cáo trạng số 81/CT-VKS ngày 10/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố bị cáo Vi Văn Q, Lương huy H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

*Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự;

- Xử phạt bị cáo Vi Văn Q từ 03 năm 9 tháng tù đến 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 05/01/2025.

Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Q từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.

- Xử phạt bị cáo Lương Huy H từ 03 năm 9 tháng tù đến 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 05/01/2025.

Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo H từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.

Về vật chứng, án phí đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

* Tại cơ quan điều tra, truy tố và tại phiên toà hôm nay, các bị cáo Q, H đã khai nhận rõ hành vi của mình như cáo trạng đã nêu, bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát và lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa người làm chứng bà Lê Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, tại giai đoạn điều tra đã có lời khai nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan, toàn diện vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ là phù hợp với quy định tại Điều 293 và Điều 305 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về tội danh: Lời khai của các bị cáo Q, H tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 13 giờ ngày 05/01/2025, tại phòng thuê trọ của bị cáo Lương Huy H ở tổ dân phố My Điền 1, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, bị cáo Vi Văn Q có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy, loại Heroine với giá 1.500.000 đồng cho H và ngồi trong phòng đợi H trả tiền. Ngay sau đó, H để gói ma túy mua được trên mặt giường trong phòng trọ rồi chia một phần thành 03 gói ma túy nhỏ khác có tổng khối lượng 0,132 gam đem xuống cổng khu nhà trọ để bán trái phép cho người mua, đồng thời để 2,377 gam ma túy Heroine còn lại trên mặt giường trong phòng trọ, mục đích để tiếp tục bán. Khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày, trong khi H vừa nhận 600.000 đồng của người mua ma túy không biết họ tên, địa chỉ nhưng chưa kịp giao 03 gói ma túy cho người mua thì bị Công an phường Hồng Thái, phối hợp với Công an phường Nếnh, thị xã Việt Yên phát hiện bắt quả tang H và Q cùng toàn bộ số ma túy nêu trên và vật chứng khác có liên quan, còn người mua ma túy của H chạy thoát. Tổng khối lượng ma túy Heroine chứng minh được Q bán trái phép cho H, sau đó H tàng trữ để bán lại cho người khác là 2,509 gam. Q chưa được H trả tiền mua trái phép chất ma túy.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đủ tuổi đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Với hành vi nêu trên của các bị cáo Q, H đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Trong vụ án này bị cáo Q, H đồng phạm giản đơn. Bị cáo Q là người mua ma túy ban đầu, sau đó có ma túy đã bán cho H. Bị cáo H mua ma túy của bị cáo Q về để tàng trữ sử dụng và bán kiếm lời nên bị cáo H có vai trò đồng phạm với bị cáo Q trong việc mua bán ma túy và bị cáo Q có vai trò cao hơn bị cáo H trong vụ án này.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến việc độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, hành vi của các bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương và sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng không tốt đến trật tự gia đình và xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh một số tội phạm nguy hiểm khác, là con đường lây lan của một số căn bệnh xã hội nguy hiểm cho bản thân và xã hội. Vì vậy, vụ án cần phải được xử lý nghiêm tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:

Tại cơ quan điều tra, truy tố và tại phiên toà hôm nay các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, các bị cáo nhận thức việc làm của mình là sai nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo Q, H đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự gì.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Q, H đều không có.

Từ những phân tích trên, đánh giá về nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn để cách ly các bị cáo với xã hội trong một thời gian mới có tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật.

Xét mức đề nghị hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Q là phù hợp, đối với bị cáo H là hơi cao.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự quy định các bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung bằng tiền. Nhưng Hội đồng xét xử xét thấy: Tại biên bản xác minh tại địa phương các bị cáo cư trú thì các bị cáo Q, H không có tài sản riêng và điều kiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên xét thấy không cần thiết phải phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật để các bị cáo yên tâm cải tạo.

Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 phong bì ký hiệu “QT4” niêm phong dán kín bên trong đựng 02 cân tiểu ly màu bạc và 02 con dao tem có chữ Croma; 01 phong bì có ký hiệu “QT1” niêm phong dán kín đựng mẫu vật là ma túy Heroin hoàn lại sau giám định, kết luận giám định là chất ma túy đây là vật chứng Nhà nước cấm lưu hành, là tài sản của cáo nhưng dùng vào phạm tội không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 phong bì đề tên Công an thị xã Việt Yên niêm phong dán kín có chữ ký của người tham gia niêm phong bên trong đựng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 có số Imei: 355339080550554 đã qua sử dụng; 01 phong bì đề tên Công an thị xã Việt Yên niêm phong dán kín có chữ ký của người tham gia niêm phong bên trong đựng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh có số Imei: 862366052013994 đã qua sử dụng, là tài sản của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền 600.000 đồng tiền là do bị cáo H phạm tội mà có nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Các vấn đề khác:

- Đối với người đàn ông bán ma túy cho Q, do Q khai không biết là ai, không nhìn được mặt; đồng thời người đàn ông H khai có tên zalo “Đức Anh” chưa nhận được ma túy, H khai không biết là ai, địa chỉ ở đâu nên Cơ quan điều tra không có căn cứ, xác minh và đề cập xử lý.

- Đối với bà Lê Thị T không biết việc bị cáo H sử dụng phòng trọ để mua bán ma túy nên không phạm tội.

- Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của H, Q đã bị Công an thị xã Việt Yên xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Các bị cáo Q, H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 21; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về trách nhiệm hình sự:

1.1 Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Vi Văn Q 03 (ba) năm 9 (chín) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 05/01/2025.

Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Q.

1.2 Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Lương Huy H 03 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 05/01/2025.

Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo H.

[2] Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

* Tịch thu tiêu hủy:

- 01(một) phong bì ký hiệu “QT4” niêm phong dán kín bên trong đựng 02 cân tiểu ly màu bạc và 02 con dao tem có chữ Croma

- 01(một) phong bì có ký hiệu “QT1” niêm phong dán kín đựng mẫu vật là ma túy Heroin hoàn lại sau giám định

* Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:

- 01(một) phong bì đề tên Công an thị xã Việt Yên niêm phong dán kín có chữ ký của người tham gia niêm phong bên trong đựng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 có số Imei: 355339080550554 đã qua sử dụng

- 01(một) phong bì đề tên Công an thị xã Việt Yên niêm phong dán kín có chữ ký của người tham gia niêm phong bên trong đựng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh có số Imei: 862366052013994 đã qua sử dụng

- Số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng)

[3] Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;

Buộc các bị cáo Q, H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bắc Giang;

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Bắc Giang;

- Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;

- VKSND thị xã Việt Yên;

- Cơ quan CSĐT (Công an tỉnh Bắc Giang);

- Chi cục THADS thị xã Việt Yên;

- Các bị cáo;

- Lưu hồ sơ

Nguyễn Thị Vân THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Vân

Cỡ chữ