- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Ng S - Thái Văn N"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 81/2025/HNGĐ-ST Ngày: 06 - 6 - 2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Công.
2. Bà Nguyễn Thị Túy Phƣợng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Sao Mai – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Bƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hƣơng - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai vụ án thụ lý số: 629/2024/TLST-HNGĐ ngày 17/10/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 60/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025, giữa các đƣơng sự:
1) Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ngọc S, sinh năm 1997; Nơi thƣờng trú: Ấp F, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang; tạm trú: 23C/A6 đƣờng X, khu phố C, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2) Bị đơn: Ông Thái Văn N, sinh năm 1997; Nơi thƣờng trú: Ấp F, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang; tạm trú: B đƣờng C, khu phố C, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc S trình bày:
Bà Trần Thị Ngọc S và ông Thái Văn N tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2021, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang, đƣợc cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 17 ngày 18/02/2021. Quá trình chung sống, bà S và ông N có 01 ngƣời con chung tên Thái Trần Bảo U, sinh ngày 13/4/2021.
Quá trình chung sống của vợ chồng bà Trần Thị Ngọc S thời gian đầu hạnh phúc, Sau đó, bà S và ông N bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, quan điểm sống bất đồng, hay cãi nhau nên cuộc sống hôn nhân không hòa hợp, hai vợ chồng không tìm đƣợc tiếng nói chung. Ngoài ra, ông Thái Văn N không đồng cảm với công việc của bà S, không lo kinh tế gia đình, không phụ bà S nuôi con, bà S đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng không thành, ông N không có sự thay đổi. Từ đầu tháng 5 năm 2024 đến nay, do không sống chung đƣợc nữa nên bà S và ông Thái Văn N đã sống riêng nhau, cả hai đều không có biện pháp gì hòa giải với nhau, thời gian sống riêng ông N cũng không gọi điện, nhắn tin, không hỏi thăm về con, không gửi tiền nuôi con.
Bà S xác định đời sống chung với ông Thái Văn N không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên yêu cầu tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Ngọc S yêu cầu đƣợc ly hôn với ông Thái Văn N.
Về con chung: Bà S yêu cầu đƣợc chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con chung tên Thái Trần Bảo U, sinh ngày 13/4/2021, không yêu cầu ông Thái Văn N cấp dƣỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do điều kiện công việc bận không tham gia phiên tòa đƣợc nên bà Trần Thị Ngọc S yêu cầu đƣợc xét xử vắng mặt.
Quá trình tố tụng, bị đơn ông Thái Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt và không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình về yều cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt.
Vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thƣ ký Tòa án: Thẩm phán đƣợc phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về xét xử sơ thẩm.
Về việc chấp hành pháp luật của ngƣời tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ trong quá trình tố tụng nhƣng vắng mặt không rõ lý do, không đến tham gia phiên tòa xem nhƣ từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử nhƣ sau: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về tố tụng: Nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc S có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Thái Văn N đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhƣng vắng mặt không rõ lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu đƣợc ly hôn và yêu cầu giải quyết về con chung nên quan hệ tranh chấp trong vụ án này là ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ đơn khởi kiện, biên bản xác minh của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An tại Công an phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng cung cấp thể hiện bị đơn ông Thái Văn N hiện đang sinh sống và có đăng ký tạm trú tại B đƣờng C, khu phố C, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Ngọc S và ông Thái Văn N xác lập mối quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn đƣợc Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang, đƣợc cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 17 ngày 18/02/2021 nên là hôn nhân hợp pháp.
Bà Trần Thị Ngọc S khởi kiện yêu cầu đƣợc ly hôn với ông Thái Văn N với lý do: Vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung thƣờng xuyên cãi nhau nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, quá trình chung sống cùng ông Thái Văn N thì bà S không nhận đƣợc sự quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ trong mọi công việc gia đình nhƣ: Chăm sóc con chung, kinh tế gia đình, bà S đã nhiều lần gọi điện liên lạc nhƣng không nói chuyện đƣợc. Hiện vợ chồng đã sống riêng từ tháng 5 năm 2024 đến nay, cả hai không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa ngƣời vợ và ngƣời chồng chỉ tồn tại bền vững dựa trên tình cảm thƣơng yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình và khi có những bất đồng quan điểm trong quan hệ vợ chồng thì ngƣời vợ và ngƣời chồng phải cùng nhau tích cực hàn gắn, xóa bỏ những mâu thuẫn, duy trì tình cảm tốt đẹp của vợ chồng. Nhƣng quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Ngọc S và ông Thái Văn N không đạt đƣợc các yếu tố của một gia đình hạnh phúc. Do tình trạng hôn nhân của bà Trần Thị Ngọc S và ông Thái Văn N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Ngọc S về việc ly hôn với ông Thái Văn N.
Về con chung: Bà Trần Thị Ngọc S yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con chung tên Thái Trần Bảo U, sinh ngày 13/4/2021. Xét thấy, từ thời điểm ông N và bà S sống riêng, con chung vẫn ở cùng bà S và đƣợc bà S chăm sóc tốt. Quá trình tố tụng, ông N đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhƣng vắng mặt không rõ lý do xem nhƣ từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó, bà Trần Thị Ngọc S yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục là có cơ sở, phù hợp pháp luật, đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con.
Về cấp dƣỡng nuôi con: Bà Trần Thị Ngọc S không yêu cầu ông Thái Văn N phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung sau khi ly hôn. Xét đây là ý chí tự nguyện của bà S nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị Ngọc S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ những nhận định trên, có đủ cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc S.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp quy định của pháp luật.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 244, Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
- Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Ngọc S đối với ông Thái Văn N về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Ngọc S đƣợc ly hôn với ông Thái Văn N.
- Về con chung: Giao con chung tên Thái Trần Bảo U, sinh ngày 13/4/2021 cho bà Trần Thị Ngọc S trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục.
- Về cấp dƣỡng: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Ngọc S không yêu cầu ông Thái Văn N phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, ngƣời không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai đƣợc cản trở. Ngƣời không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hƣởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con thì ngƣời trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ngƣời đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dƣỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đƣơng sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, đƣợc khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002864 ngày 03/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng; - Chi cục THADS thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng; - Các đƣơng sự; - Lƣu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Ánh |