vanban.org

Bản án 81/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 23/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Nguyễn Bảo D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bảo D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/12/2023 Về biện pháp tư pháp: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Nguyễn Bảo D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỐNG NHẤT
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2024/HSST
Ngày: 23-5-2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT – TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Kim Đó

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ánh Ngọc

Ông Nguyễn Thành Lam.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tham gia phiên tòa: Ông Nuyễn Xuân Thanh; Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2022, tại Hội trường A - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 84/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Bảo D;Giới tính: Nam

Sinh năm: 1983, tại: Đồng Nai;

Căn cước công dân số: 075083009079; cấp ngày 27/3/2023; Nơi cấp:Cục C2 về TTXH.

Nơi ĐKHKTT: đường H, phường B, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh

Tạm trú: khu phố T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa.

Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: Lớp 12/12.

Họ tên cha: Nguyễn Văn C; Sinh năm: 1947.

Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Hồng T; Sinh năm: 1956.

Hiện đáng sinh sống tại khu phố T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Bị cáo là con út trong gia đình có 03 anh em.

Họ và tên vợ: Nguyễn Thị Cẩm Y; Sinh năm: 1986.

Bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2013.

Tiền án; Tiền sự: Không

Nhân thân: năm 2006 UBND thành phố H đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn 18 tháng.

Năm 2020 Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất xử phạt 14 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phí và án phạt tù ngày 05/02/2021.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện T từ ngày 04/12/2023 đến nay.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 23 giờ 30 phút ngày 04/12/2023, Công an thị trấn D, huyện T phát hiện bắt quả tang Nguyễn Bảo D, sinh năm 1983 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thu giữ trên bàn tay phải của Nguyễn Bảo D 01 túi nilon bên trong có chứa tinh thể màu trắng (Nguyễn Bảo D khai nhận là ma túy đá) Công an thị trấn D, huyện T lập biên bản giữ người phạm tội quả tang cùng vật chứng.

Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Bảo D là đối tượng nghiện ma túy từ đầu năm 2018, Nguyễn Bảo D có hộ khẩu thường trú tại phường B, Quận G, TP Hồ Chí Minh, năm 2020 D bị Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xử phạt 14 tháng tù, sau khi chấp hành xong án phạt tù D quay lại thị trấn D để sinh sống. Do có nhu cầu sử dụng ma túy, Nguyễn Bảo D đã sử dụng điện thoại Oppo có gắn sim số 0933249703 để liên lạc với đối tượng tên H (bản thân D không biết rõ tên, nơi cư trú, chỉ biết nhà ở khu vực xã H) để hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá, D thuê xe ôm chở đi mua ma túy. Sau khi mua được ma túy Nguyễn Bảo D đi bộ đến nhà bạn gái tên Nguyễn Kim P, sinh năm 1985, trú tại thị trấn D, huyện T để cùng P đi ăn tối, Trong lúc Nguyễn Bảo D đang đứng bên hông nhà chờ P thì bị Công an thị trấn D phát hiện kiểm tra hành chính thì phát hiện trên tay phải của Nguyễn Bảo D đang cầm 01 túi nilon chứa ma túy nên lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, thu giữ tòa bộ vật chứng, vụ việc được chuyển đến Cơ quan CSĐT Công an huyện T xử lý theo quy định.

-Căn cứ Kết luận giám định số 2699/KL-KTHS ngày 11/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1111 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Bảo D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Vật chứng vụ án gồm:

- 0,0866 gam loại Methamphetamine còn lại sau giám định không được phép sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh, có gắn sim số 0933249703 của Nguyễn Bảo D liên quan đến vụ án cần tịch thu sung công.

Tại cáo trạng số 43/CT-VKS.TN ngày 27/3/2024; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất giữ nguyên quan điểm, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo D từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị hội đồng xét xử tuyên tịch thu 0,0866 gam loại Methamphetamine còn lại sau giám định không được phép sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Tịch thu 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh, có gắn sim số 0933249703 của Nguyễn Bảo D phương tiện phạm tội để sung công.

* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo D biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, tạo điều kiện cho các bị cáo cải tạo tốt sớm đoàn tụ gia đình, nuôi con nhỏ, sửa đổi bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo; không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung vụ:

Vào lúc 23 giờ 30 phút ngày 04/12/2023, Nguyễn Bảo D có hành vi Tàng trữ trái phép 0,1111 gam ma túy, loại Methamphetamine tại khu phố T, thị trấn D thì bị Công an thị trấn D, huyện T phát hiện và bắt giữ quả tang cùng toàn bộ vật chứng, vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T xử lý theo quy định.

Xét hành vi của bị cáo Nguyễn Bảo D đã có đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chấp ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất đối với bị cáo D là có căn cứ và đúng pháp luật.

. Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là lỗi cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Việc tàng trữ các chất ma túy bị nghiêm cấm, người tàng trữ sẽ bị xử lý nghiêm. Măt khác ma túy là chất độc hại người nghiện ma túy bị ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần, gây ảnh hưởng xấu đến gia đình và xã hội. Để có ma túy sử dụng thỏa mãn cơn nghiện, ham muốn không chính đáng bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết, cần có mức án nghiêm, tương xứng với hành vi của các bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Bảo D không có, nhưng bị cáo có nhân thân xấu.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có ông C1 được Nhà nước cấp bằng tổ quốc ghi công (liệt sỹ) quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt khi lượng hình.

. Về vật chứng:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Tuyên tịch thu 0,0866 gam loại Methamphetamine còn lại sau giám định không được phép sử dụng cần tiêu hủy.

- Tịch thu 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh, có gắn sim số 0933249703 của Nguyễn Bảo D là công cụ phạm tội để sung công.

- Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về xác định tội danh, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Các bị cáo Nguyễn Bảo D phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c, điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

1. Tuyên bố:

Bị cáo Nguyễn Bảo D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bảo D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/12/2023

2. Về biện pháp tư pháp:

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tuyên tịch thu 0,0866 gam loại Methamphetamine còn lại sau giám định để tiêu hủy.

- Tịch thu 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh có gắn sim số 0933249703 của Nguyễn Bảo D để sung công. (Biên bản giao nhận vật chứng và tài sản ngày 27/03/2024)

3. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Bảo D phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4.Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Người tham gia tố tụng;

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

- Tòa án ND tỉnh Đồng Nai;

- Viện kiểm sát ND tỉnh Đồng Nai;

- Viện kiểm sát ND H. Thống Nhất;

- Cơ quan CSĐT CA H. Thống Nhất;

- Cơ quan THA HS H. Thống Nhất

(Đã ký)

- Nhà tạm giữ CA H. Thống Nhất;

- Thi hành án DS H. Thống Nhất;

- Lưu hồ sơ vụ án, VP.

Lê Kim Đó

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Đại N

Huỳnh Thị Châu

Lê Kim Đó

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ

THẨM

Cỡ chữ