- Tranh chấp gì? án hình sự — "81/2024/HS-PT - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2024/HS-PT Ngày: 23/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Long
Các Thẩm phán:
Ông Phan Vĩnh Chuyển
Ông Bùi Trọng Danh
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Tùng Lâm – Thư ký TAND TP Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đãi Em - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 34/2024/TLPT-HS ngày 26 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Thái Nguyễn Minh H và Trần Văn C do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 150/2023/HS-ST ngày 15 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Các bị cáo có kháng cáo:
1/ Thái Nguyễn Minh H; Tên gọi khác: Rin mèo; sinh ngày xx/xx/19xx tại Đà Nẵng; Nơi cư trú: Kxx/xx đường H Hoa T, phường Tân C, quận Thanh K, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thái Đ (chết) và con bà Nguyễn Thị Bạch T (sinh năm 19xx), bị cáo là con duy nhất trong gia đình, có vợ là bà Nguyễn Thị Trúc L (sinh năm 19xx) và 03 con lớn nhất sinh năm 20xx và nhỏ nhất sinh năm 20xx; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.
2/ Trần Văn C, Tên gọi khác: C gạch men; sinh ngày xx/xx/19xx tại Đà Nẵng; Nơi cư trú: Kxxx/Hxx/xx đường Lê D, phường Chính G, quận Thanh K, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần S (chết) và bà Đỗ Thị C (chết); Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; Có vợ là bà Võ Thị H (sinh năm 19xx) và 02 con lớn nhất sinh 19xx và nhỏ nhất sinh năm 198xx; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 06/9/2023, bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng khởi tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/9/2023, thay đổi biện pháp “Bảo lĩnh” từ ngày 26/10/2023 trong 1 vụ án khác. Trong vụ án này bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ khoảng đầu năm 2019 đến ngày 03/04/2021, tại địa bàn quận Thanh K, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Thị Hồng L cùng với đồng bọn đã có hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc bằng hình thức ghi số đề. Hành vi phạm tội của Nguyễn Thị Hồng L, Huỳnh Kim K, Hồ Thị Mỹ L, Võ Thị Thu S, Phạm Thị Huỳnh T, Nguyễn Thị , Trần Thị V, Lê Thị T, Đỗ Lê Minh A bị Tòa án xét xử về tội “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 322 Bộ Luật Hình sự; Trần Hưng L phạm tội “ Đánh bạc” theo khoản 2 Điều 321 Bộ Luật Hình sự; (theo bản án số 21/2023/HS-ST ngày 07/3/2023 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê và Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử theo bản án số 86/2023/15- PT ngày 26/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng).
Trong quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê đã ra Quyết định tách nguồn tin về tội phạm số 01/QĐ-CSHS ngày 17/01/2023 để tiếp tục điều tra xác minh các đối tượng có liên quan đến vụ án gồm: đối tượng “Trường" (số điện thoại: 0905.953.639), "Hạnh" (số điện thoại: 0905.634.577), "Tạo Anh" (số điện thoại: 0777.121.888), "Lan" (số điện thoại: 0905.802.731), "Lùn” (số điện thoại: 0905.693.047), "Laixe Khanh" (số điện thoại: 0905.112.324), "Laixe Cương" (số điện thoại: 0905.190.332), "Lái xe Đê (số điện thoại: 0935.275.487), "Thanh gas" (số điện thoại: 0969.178.179, 0932.571.739), "A chau gach men" (số điện thoại: 0903.559.599), "Rin Mèo" (số điện thoại: 0905.494.982), “anh Hùng” (số điện thoại: 0905.222.678), “Thắng caphe" (số điện thoại: 0905.929.737), “Út” (số điện thoại: 0705.432.048 và 0703.059.577), "longa" (số điện thoại: 0796.853.251), "Phuơg2" (số điện thoại: 0763.789.225), "H" (số điện thoại: 0766.798.960), "Bé Tỷ Gù", "Dì Xí Dễ", "Hạnh Trần", "Sỹ Nấm", "Bài Thơ". Quá trình điều tra xác định như sau:
- Từ ngày 06/03/2021 đến ngày 14/3/2021, Thái Nguyễn Minh H (tên gọi khác Rin mèo) sử dụng số điện thoại 0905.494.982 nhiều lần nhắn tin đánh bạc bằng hình thức số đề với Huỳnh Kim K với tổng số tiền đánh bạc là 26.640.000 đồng (trong đó có 02 lần số tiền đánh bạc trên 5.000.000 đồng; ngày 07/3/2021 là 5.595.000 đồng, ngày 13/3/2021 là 6.200.000 đồng)
- Từ ngày 19/3/2021 đến ngày 21/3/2021, Trần Văn C (tên gọi khác "a. chau gach men") sử dụng số điện thoại 0903.559.599 (của Võ Thanh H; sinh năm 19xx; ĐKTT: 15 Lê Thạch, tổ xx, phường Hòa A, quận Cẩm L – chủ thuê bao 0903.559.599 cho Trần Văn C sim điện thoại nói trên từ năm 1993) để nhắn tin đánh bạc bằng hình thức số đề với Huỳnh Kim K với tổng số tiền đánh bạc là 16.770.000 đồng. (trong đó có 03 lần đánh bạc trên 5.000.000 đồng gồm: ngày 19/3/2021: 5.200.000 đồng; ngày 20/3/2021: 5.850.000 đồng; ngày 21/3/2021: 5.720.000 đồng).
Ngoài ra từ 27/02/2021 đến 03/4/2021, Nguyễn Thị Đan P - "Ut" sử dụng số điện thoại 0703.059.577 đã nhiều lần nhắn tin đánh bạc bằng hình thức số đề với Huỳnh Kim K với số tiền đánh bạc trong mỗi lần từ 260.000 đồng đến 4.784.000 đồng.
Từ ngày 25/3/2021 đến ngày 02/4/2021, Lâm Nam C - "Lai xe Cuong" sử dụng số điện thoại 0905.190.332, đã nhiều lần nhắn tin đánh bạc bằng hình thức số đề với Huỳnh Kim K với số tiền đánh bạc trong mỗi lần từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng với tổng tiền đánh bạc là 1.235.000 đồng.
Từ ngày 24/3/2021 đến ngày 01/4/2021, Nguyễn Văn P - "Lai xe để" sử dụng số điện thoại 0935.275.487 đã nhiều lần nhắn tin đánh bạc bằng hình thức số đề với Huỳnh Kim K với số tiền đánh bạc trong mỗi lần từ 200.000 đồng đến 600.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 2.340.000 đồng.
Từ ngày 09/10/2020 đến ngày 15/02/2021, Nguyễn H –“anh H” đã sử dụng số điện thoại 0905.222.678 nhiều lần nhắn tin đánh bạc bằng hình thức số đề với Huỳnh Kim K với số tiền đánh bạc trong mỗi lần từ 65.000 đồng đến 390.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 2.925.000 đồng.
Từ ngày 24/4/2019 đến ngày 03/4/2021, Nguyễn Đại T - Thắng sa phê” sử dụng số điện thoại 0905.929.737 đã nhiều lần nhắn tin đánh bạc bằng hình thức số đề với Huỳnh Kim K với số tiền đánh bạc trong mỗi lần từ 100.000 đồng đến 800.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 17.763.000 đồng
Đối với chủ đề cấp trên là “Trường" (số điện thoại: 0905.953.639) mà Nguyễn Thị Bích N chuyển tịch đề lên đứng tên Tô Thị Thu T, Trang khai nhận không sử dụng số điện thoại 0905.953.639, không có mối quan hệ gì với Nguyễn Thị Bích N.
Đối với "Hạnh" (số điện thoại: 0905.634.577) tra cứu đứng tên Phùng Nguyễn Anh T, T khai nhận không sử dụng số điện thoại 0905.634.577, không có mối quan hệ gì với Nguyễn Thị Bích N.
Đối với Zalo tên “Tạo Anh" sử dụng số điện thoại 0777.121.888 đứng tên là Trần Văn T: Qua xác minh đối tượng không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu, làm gì.
Đối với đối tượng tên "Lan" (số điện thoại: 0905.802.731): Từ ngày 27/02/2021 đến ngày 03/04/2021, Võ Thị Thu S đã đứng ra bảo lãnh để "Lan" nhiều lần nhắn tin chuyển đề cho K. Số điện thoại: 0905.802.731 tra cứu đứng tên Ông Thị Tường V: Vy khai nhận không sử dụng số điện thoại 0905.802.731, không có mối quan hệ gì với các đối tượng "Lan", Huỳnh Kim K, Võ Thị Thu S.
Đối với đối tượng tên "Lùn” sử dụng số điện thoại 0905.693.047, tra cứu đứng tên Nguyễn Ngọc T – chủ thuê bao số 0905.693.047: T khai nhận không sử dụng số điện thoại 0905.693.047, không có mối quan hệ gì với Huỳnh Kim K.
Đối với đối tượng tên “Laixe Khanh” sử dụng số điện thoại 0905.693.047, tra cứu đứng tên Bùi Trần Quốc K - chủ thuê bao 0905.112.324: Qua xác minh đối tượng không có mặt ở địa phương, không rõ đi đâu, làm gì.
Đối với đối tượng tên "Thanh gas" sử dụng số điện thoại 0969.178.179, 0932.571.739, tra cứu đứng tên Trịnh Ngọc T: Qua xác minh đối tượng không mặt tại địa phương, không rõ đi đâu, làm gì.
Đối với đối tượng tên "Ut" sử dụng số điện thoại 0705.432.048 đứng tên Nguyễn Mậu H – chủ thuê bao 0705.432.048: đối tượng khai nhận từ trước đến nay không sử dụng số điện thoại 0705.432.048, không có mối quan hệ gì với Huỳnh Kim K.
Đối với đối tượng tên “Long a" sử dụng số điện thoại 0796.853.251 đứng tên Nguyễn Thị Xuân L: xác minh tại địa phương không có công dân có lai lịch như trên.
Đối với đối tượng tên “Phương2" sử dụng số điện thoại 0763.789.225 là của Trần Thị Mỹ P - chủ thuê bao 0763.789.225: Ngày 03/4/2021, Trần Thị Mỹ P nhắn tin đánh bạc bằng hình thức số đề với Lê Thị T với số tiền đánh bạc là 2.715.000 đồng.
Đối với đối tượng tên “H” sử dụng số điện thoại 0766.798.960 đứng tên Nguyễn Thị Thùy D – đối tượng không có mặt tại địa phương, đi đâu làm gì không rõ.
Các đối tượng có tài khoản Zalo: "Bé Tý Gù", "Dì Xí Dễ", "Hạnh Trần" Sỹ Nấm”, “Bài Thơ”, qua xác minh tại Sở Thông tin và truyền thông thành phố Đà Nẵng không đủ cơ sở để xác định nhân thân, lai lịch của người sử dụng.
Tại bản án sơ thẩm số 150/2023/HSST ngày 15/12/2023, TAND quận Thanh Khê TP. Đà Nẵng đã quyết định.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Thái Nguyễn Minh H 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Trần Văn C 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
- Ngày 19/12/2023 và 20/12/2023, các bị cáo H và C có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Thái Nguyễn Minh H thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh Tòa án cấp sơ thẩm kết luận là đúng; bị cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, trình bày hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình, nuôi các con nhỏ chưa thành niên, cung cấp tình tiết mới đã nộp số tiền truy thu theo quyết định của bản án sơ thẩm, xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo Trần Văn Cvắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, giữ nguyên nội dung kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Thái Nguyễn Minh H và Trần Văn C về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật; mức hình phạt 09 tháng tù đối với bị cáo H và 06 tháng tù đối với bị cáo C là phù hợp; bị cáo H có tình tiết mới đã nộp số tiền truy thu theo quyết định của bản án sơ thẩm đề nghị HĐXX ghi nhận cho bị cáo, song các mức án trên là phù hợp, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo H, và C giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm nhận định như sau:
. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Văn C vắng mặt, nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, việc vắng mặt của bị cáo không ảnh hưởng đến việc xét xử và xét đơn kháng cáo, nên HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung; qua xem xét lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, HĐXX có cơ sở khẳng định:
- Trong các ngày 06/03/2021 đến ngày 14/3/2021, Thái Nguyễn Minh H (tên gọi khác Rin mèo) sử dụng số điện thoại 0905.494.982 nhiều lần nhắn tin đánh bạc bằng hình thức số đề với Huỳnh Kim K, cụ thể: ngày 07/3/2021 đánh bạc với số tiền là 5.595.000 đồng, gồm tiền đánh bạc trên tịch đề là 2.970.000 đồng và tiền trúng đề là 2.625.000 đồng; ngày 13/3/2021 đánh bạc với số tiền đánh bạc là 6.200.000 đồng, gồm tiền đánh bạc trên tịch đề là 2.700.000 đồng và tiền trúng đề là 3.500.000 đồng; riêng các ngày 06/3, 08/3, và 14/3/2021 có số tiền đánh bạc chưa tới 5.000.000 đồng.
- Trong các ngày 19/3, 20/3 và ngày 21/3/2021, Trần Văn C (tên gọi khác "a. chau gach men") sử dụng số điện thoại 0903.559.599 để nhắn tin đánh bạc bằng hình thức số đề với Huỳnh Kim K với tổng số tiền đánh bạc là 16.770.000 đồng. (trong đó ngày 19/3/2021: 5.200.000 đồng; ngày 20/3/2021: 5.850.000 đồng; ngày 21/3/2021: 5.720.000 đồng).
. Với hành vi phạm tội như trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 150/2023/HS-ST ngày 15/12/2023 Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Thái Nguyễn Minh H, Trần Văn C về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, đối với các bị cáo cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất mức độ phạm tội và nhân thân của từng bị cáo để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét kháng cáo của bị cáo H, HĐXX nhận thấy: Tổng số tiền đánh bạc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là 5.595.000 đồng + 6.200.000 đồng = 11.795.000 đồng trong 02 ngày 07/3 và ngày 13/3, số tiền này bao gồm cả tiền đánh đề và tiền trúng đề; riêng các ngày 06/3, 08/3, và 14/3/2021 có số tiền đánh bạc chưa tới 5.000.000 đồng nên không cấu thành tội phạm; Tòa án cấp sơ thẩm xác định tổng số tiền bị cáo đánh bạc là 26.640.000 đồng là gây bất lợi cho bị cáo. Mặt khác, xét đây là vụ án truy xét, trên cơ sở dữ liệu điện thoại thu được từ bị cáo Huỳnh Kim K, qua đấu tranh khai thác thì bị cáo H đã hợp tác, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình; về nhân thân bị cáo là người có nhân thân tốt, từ trước đến nay chưa vi phạm pháp luật lần nào; bị cáo phạm tội thuộc trường hợp từ 02 lần trở lên, nhưng mỗi lần phạm tội đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền đánh bạc là không lớn; bị cáo có nơi cư trú và công việc ổn định, hiện hoàn cảnh gia đình bị cáo có nhiều khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình nuôi 03 con chưa thành niên, là con duy nhất trong gia đình cha chết, phải nuôi mẹ già 70 tuổi; đây được xem là tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho bị cáo; sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo có tình tiết mới là đã nộp số tiền truy thu thu lợi bất chính theo quyết định của Bản án sơ thẩm thể hiện sự ăn năn hối cải của mình. Do đó, HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà áp dụng chế định án treo quy định tại Điều 65 BLHS cho bị cáo được cải tạo giáo dục tại địa phương và ấn định cho bị cáo một thời gian thử thách cũng đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.
Đối với kháng cáo của bị cáo Trần Văn C, HĐXX nhận thấy: Bị cáo phạm tội đánh bạc trong 03 ngày với tổng số tiền đánh bạc phải chịu trách nhiệm hình sự là 5.200.000 đồng + 5.850.000 đồng +5.720.000 đồng = 16.770.000 đồng; phạm tội thuộc trường hợp từ 02 lần trở lên; tuy bị cáo cũng chưa có tiền án tiền sự, mỗi lần phạm tội đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền đánh bạc không lớn; nhưng hiện nay bị cáo đang bị điều tra, truy tố chờ Tòa án xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 174 BLHS là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Do vậy, theo quy định của pháp luật bị cáo thuộc trường hợp không được cho hưởng án treo, nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Do không được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo C phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn C, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thái Nguyễn Minh H, sửa một phần Bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức phạt tù nhưng cho bị cáo H được hưởng án treo.
1.1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Thái Nguyễn Minh H 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm, ngày 23/4/2024.
Giao bị cáo Thái Nguyễn Minh H về cho Ủy ban nhân dân phường Tân Chính, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể Quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Tiếp tục quy trữ số tiền 6.125.000 đồng bị cáo Thái Nguyễn Minh H đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0000968 ngày 16/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng để đảm bảo thi hành án cho bị cáo H.
1.2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Trần Văn C 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Văn C phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo Thái Nguyễn Minh Hkhông phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Đà Nẵng; - Phòng HSNV - Công an TP Đà Nẵng; - CQ THAHS–Công an quận Thanh Khê; - VKSND quận Thanh Khê; - CQCSĐT Công an quận Thanh Khê; - Toà án nhân dân quận Thanh Khê; - Vụ GĐKT I – TAND tối cao; - Chi cục THA dân sự quận Thanh Khê; - Người tham gia tố tụng; Lưu HS. - Lưu HS. Các Thẩm phán Phan Vĩnh Chuyển Bùi Trọng Danh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Long HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Minh Long |