- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Út Dàn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Út D.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN W TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2024/HNGĐ-ST Ngày 19 - 06 - 2024 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYÊNH W TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hùng Nuôi.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Văn Cơ.
2. Ông Nguyễn Văn Điển.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện W tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện W tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Tài - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện W tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 95/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024; về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 95/2024/QĐST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Út D, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Số 125, ấp R, xã T, huyện Y, tỉnh Sóc Trăng. (có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Phan Hoài N, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Ấp Q, xã E, huyện W, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/02/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Trần Út D trình bày: Nguyên năm 2017, bà Trần Út D với ông Phan Hoài N xác lập quan hệ hôn nhân, tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn và được UBND xã T, huyện Y, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 95 ngày 02/11/2017. Trong quá trình chung sống ông bà có một con chung là cháu Phan Trần Chí V, sinh ngày 06/10/2018 (theo Giấy khai sinh số 280 ngày 25/10/2018), hiện cháu Phan Trần Chí V sống với bà Trần Út D, do bà Trần Út D trực tiếp nuôi; không có tài sản chung, không có nợ chung và cũng không có người khác nợ vợ chồng. Trong thời gian chung sống vợ chồng thường cải vả, phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và cả hai không có tiếng nói chung nên đã không còn chung sống vợ chồng.
Nay bà Trần Út D nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống nên yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Út D xin được ly hôn với ông Phan Hoài N.
- Về con chung: Yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung là cháu Phan Trần Chí V đến trưởng thành (tròn 18 tuổi); bà Trần Út D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung, người khác nợ vợ chồng: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Bị đơn Phan Hoài N: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án số 95/2024/TB-TLVA ngày 22/3/2024 và Thông báo (Về việc yêu cầu đương sự tự khai và cung cấp chứng cứ) số 33/2024/TB-TA ngày 22/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện W, tỉnh Sóc Trăng (nhận ngày 25/3/2024) nên ông Phan Hoài N đã biết nội dung, căn cứ khởi kiện và những vấn đề ông Phan Hoài N yêu cầu Tòa án giải quyết nhưng ông Phan Hoài N không có văn bản trả lời theo Tòa án ấn định. Đồng thời, Tòa án đã thông báo và triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vẫn không tham gia và vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn xin vắng mặt và không có ý kiến khác nên xem như giữ nguyên nội dung đơn yêu cầu khởi kiện.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ và chấp hành đúng pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đồng thời, phát biểu quan điểm về tính có căn cứ và hợp pháp của yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, theo phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[I] Về tố tụng:
[1] Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn Trần Út D yêu cầu Tòa án giải quyết xin được ly hôn với ông Phan Hoài N; yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung là cháu Phan Trần Chí V, sinh ngày 06/10/2018 đến trưởng thành (tròn 18 tuổi); bà Trần Út D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung, nợ chung, người khác nợ vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi thụ lý vụ án, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Trong vụ án bị đơn Phan Hoài N cư trú tại ấp Q, xã E, huyện W, tỉnh Sóc Trăng, vụ án được giải quyết theo thủ tục sơ thẩm và không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoạc cần ủy thác tư pháp. Do vậy, Toà án nhân dân huyện W, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, xét xử vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[3] Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Trần Út D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn Phan Hoài N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm mà vẫn vắng mặt không lý do và không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vụ án.
[II] Về nội dung:
[1] Nguyên đơn Trần Út D và bị đơn Phan Hoài N kết hôn với nhau là trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc, được UBND xã T, huyện Y, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 95 ngày 02/11/2017, nên quan hệ hôn nhân giữa anh bà Trần Út D với ông Phan Hoài N là hợp pháp. Sau khi kết bà Trần Út D và ông Phan Hoài N chung sống hạnh phúc và đã có một con chung là cháu Phan Trần Chí V, sinh ngày 06/10/2018; theo bà Trần Út D trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, xảy ra mâu thuẫn và bất hòa trong cuộc sống nên đã không còn chung sống vợ chồng từ tháng 5 năm 2022 cho đến nay. Bị đơn Phan Hoài N tuy không có ý kiến và không tham gia tố tụng nhưng biết về nội dung khởi kiện và yêu cầu của nguyên đơn Trần Út D mà không phản đối.
[2] Theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình “Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn...; Cá nhân thực hiện quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình theo quy định của Bộ luật này, Luật hôn nhân và gia đình...” và theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn”. Do đó, tự bà Trần Út D hoặc bà Trần Út D cùng ông Phan Hoài N có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn, nên ngày 29/02/2024 bà Trần Út D tự mình gửi đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Phan Hoài N là phù hợp theo quy định pháp luật.
[3] Theo nguyên đơn Trần Út D trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, xảy ra mâu thuẫn và bất hòa trong cuộc sống nên đã không còn chung sống vợ chồng từ tháng 5 năm 2022 cho đến nay, thời gian bà Trần Út D với ông Phan Hoài N phát sinh mâu thuẫn và không còn chung sống tính đến thời điểm khởi kiện và xét xử sơ thẩm là đã nhiều năm, nên mâu thuẫn vợ chồng kéo dài, đến mức trầm trọng, làm cho cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân cũng không đạt được, tình cảm vợ chồng thật sự đã hết và về tương lai cũng không thể hàn gắn được, nếu duy trì quan hệ hôn nhân sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của các bên và đến việc nuôi dạy con cái; nay bà Trần Út D cương quyết ly hôn với ông Phan Hoài N. Do đó, theo bà Trần Út D yêu cầu xin được ly hôn với ông Phan Hoài N là có căn cứ và phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về con chung, Hội đồng xét xử thấy rằng: theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn thì “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Xét thấy, cháu Phan Trần Chí V, sinh ngày 06/10/2018 tính đến ngày xét xử sơ thẩm cháu Phan Trần Chí V trên 36 tháng tuổi nhưng chưa đủ 07 tuổi nên quyết định giao cháu cho ai trực tiếp nuôi phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của cháu; trên thực tế cháu Phan Trần Chí V từ khi bà Trần Út D và ông Phan Hoài N không còn chung sống thì bà Trần Út D là người trực tiếp nuôi dưỡng cho đến nay, cháu Phan Trần Chí V hiện được bà Trần Út D nuôi dưỡng, chăm sóc tốt và tình cảm gắn bó với bà Trần Út D. Hiện tại bà Trần Út D cũng có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi cháu Phan Trần Chí V, nếu thay đổi môi trường sống sẽ ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần (đời sống tâm sinh lý và tình cảm) và cuộc sống bình thường của cháu, nên sau khi ly hôn tiếp tục giao cháu Phan Trần Chí V cho bà Trần Út D trực tiếp nuôi là hợp tình, hợp lý và có căn cứ pháp luật. Bà Trần Út D là người trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông Phan Hoài N cấp dưỡng nuôi cháu Phan Trần Chí V, đây là sự tự nguyện của bà Trần Út D. Do vậy, theo bà Trần Út D yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung là cháu Phan Trần Chí V đến trưởng thành (tròn 18 tuổi) và bà Trần Út D không yêu cấp dưỡng nuôi con là có cơ sở, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Tuy nhiên, trong quá trình nuôi con điều kiện kinh tế của bà Trần Út D không đảm bảo nuôi con thì bà Trần Út D vẫn được quyền khởi kiện yêu cầu ông Phan Hoài N cấp dưỡng nuôi con (khi cháu Phan Trần Chí V chưa tròn 18 tuổi) theo quy định tại Điều 107, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[6] Về tài sản chung, nợ chung và người khác nợ lại, theo bà Trần Út D xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Nếu sau này có phát sinh và tranh chấp thì sẽ khởi kiện và giải quyết theo quy định pháp luật.
[7] Từ những phân tích và nhận định như đã nêu trên, theo yêu cầu khởi kiện nguyên đơn là có căn cứ, nên được chấp nhận.
[8] Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, nên được chấp nhận.
[9] Về án phí dân sự sơ thẩm, nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân theo mức án phí không giá ngạch theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; theo hướng dẫn tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 và khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Út D.
- Về quan hệ hôn nhân: Đồng ý cho bà Trần Út D và ông Phan Hoài N được ly hôn.
- Về con chung: Giao cháu Phan Trần Chí V, sinh ngày 06/10/2018 cho bà Trần Út D trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (tròn 18 tuổi). Ông Phan Hoài N không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho ông Phan Hoài N theo quy định pháp luật, không ai có quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung, nợ chung và người khác nợ lại: Theo bà Trần Út D không có và không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Trần Út D phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0004553 ngày 15/3/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện W, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà Trần Út D đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
3. Báo các đương sự biết, án xử sơ thẩm công khai có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại UBND cấp xã nơi cư trú) để xin Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014), thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện W; - THADS huyện W; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hùng Nuôi |