- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Căn c khoản 1 Đi u 14, khoản 2 Đi u 53, Đi u 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Đi u 144, 147, khoản 1 Đi u 228, Đi u 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Đi u 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy đị…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 81/2024/HNGĐ-ST Ngày: 19 - 3 - 2024 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Ngô Thị Lắm.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Lâm Sơn;
2. Ông Huỳnh Văn Dứt.
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Khiêm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 88/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 362/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị P, sinh năm 1973; địa chỉ: số 159/12, đường Nguyễn H, khóm T, thị trấn Ch, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
Bị đơn: Ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1976; địa chỉ: đường Nguyễn H, khóm T, thị trấn Ch, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị P trình bày, ông H và bà P chung sống với nhau vào năm 2003, không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 01 con chung tên Huỳnh Thị N, sinh năm 2004. Hiện tại, cháu N đã thành niên, có khả năng lao động nuôi sống bản thân. Tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 01 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn do thường bất đồng quan điểm, lối sống không phù hợp nên cãi vã. Vợ chồng không còn sống chung từ tháng 01 năm 2024 cho đến nay.
Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà P yêu cầu ly hôn với ông H, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết đối với cháu Huỳnh Thị N, sinh năm 2004 do cháu N đã thành niên có khả năng lao động nuôi sống bản thân; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết tài sản chung và nợ chung.
Tại biên bản lấy lời khai đương sự do Cán bộ Tòa án lập ngày 21/02/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Huỳnh Văn H cho rằng, thống nhất lời trình bày của bà P về quá trình chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn gia đình, thời gian không sống chung, không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật và về con chung.
Do tình cảm vợ chồng không còn nên ông H đồng ý ly hôn với bà P, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết đối với cháu Huỳnh Thị N, sinh năm 2004 do cháu N đã thành niên có khả năng lao động nuôi sống bản thân; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết tài sản chung và nợ chung.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện: Tờ tự khai của bà Trần Thị P ngày 19/02/2024, Giấy khai sinh số 144, ngày 08/8/2008 do Ủy ban nhân dân thị trấn Ch, huyện C cấp đối với Huỳnh Thị N (bản sao) và Văn bản xác nhận về nơi cư trú ngày 19/02/2024.
Tài liệu, chứng cứ do bị đơn cung cấp: Đơn xin xét xử vắng mặt ngày 21/02/2024.
Tại phiên tòa:
- Bà P, ông H đều có yêu cầu xin xét xử vắng mặt và không bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ khác giao nộp cho Tòa án chứng minh cho ý kiến, yêu cầu của mình.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về ý kiến giải quyết vụ án:
- Về hôn nhân: Qua thời gian tìm hiểu, bà P và ông H chung sống với nhau nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm. Nay, bà P yêu cầu ly hôn với ông H.
Xét thấy, hôn nhân của bà P và ông H được xác lập trên cơ sở tự tìm hiểu nhau, tiến đến hôn nhân, không đăng ký kết hôn. Ông H, bà P đủ điều kiện để đăng ký kết hôn theo quy định nhưng không thực hiện là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, không công nhận bà P và ông H là vợ chồng.
- Về con chung: Bà P và ông H thống nhất không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết đối với con chung tên Huỳnh Thị N, sinh năm 2004 do cháu N đã thành niên, có khả năng lao động nuôi sống bản thân nên không đề cập giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đề cập đến.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, không công nhận bà P, ông H là vợ chồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Bà Trần Thị P khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Văn H. Đồng thời, ông H cư trú trên địa bàn huyện C. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Trần Thị P và ông Huỳnh Văn H đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa và có yêu cầu Tòa án xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà P, ông H theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Bà Trần Thị P và ông Huỳnh Văn H sau thời gian quen biết và tìm hiểu, bà P và ông H chung sống với nhau vào năm 2002 nhưng không đăng ký kết hôn.
Tại công văn số 174/UBND-HT ngày 28/02/2024 của Ủy ban nhân dân thị trấn Ch, huyện C, tỉnh An Giang về việc phúc đáp việc xác minh “Thông tin đăng ký kết hôn” giữa bà P và ông H thì không tìm thấy hồ sơ đăng ký kết hôn của bà P và ông H.
Xét, bà P và ông H chung sống với nhau vào năm 2003 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Vì vậy, không công nhận bà P và ông H là vợ chồng theo khoản 1 Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Về con chung: Bà P và ông H thống nhất không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết đối với con chung tên Huỳnh Thị N, sinh năm 2004 do đã thành niên, có khả năng lao động nuôi sống bản thân nên không yêu đề cập đến.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà P và ông H thống nhất không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà P phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ông H không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c khoản 1 Đi u 14, khoản 2 Đi u 53, Đi u 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Đi u 144, 147, khoản 1 Đi u 228, Đi u 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Đi u 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định v m c thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về hôn nhân: Không công nhận bà Trần Thị P và ông Huỳnh Văn H là vợ chồng.
2. Về con chung: Bà P và ông H thống nhất không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết đối với con chung tên Huỳnh Thị N, sinh năm 2004 do đã thành niên, có khả năng lao động nuôi sống bản thân nên không xem xét, giải quyết.
3. Về án phí sơ thẩm: Bà Trần Thị P phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đ ng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đ ng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015048 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang cấp ngày 19 tháng 02 năm 2024; bà Trần Thị P đã nộp đủ án phí.
Ông Huỳnh Văn H không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
4. Bà Trần Thị P, ông Huỳnh Văn H có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Đi u 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quy n thoả thuận thi hành án, quy n yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Đi u 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Đi u 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện C (2); - TAND tỉnh An Giang (1); - Chi cục THADS huyện C (1); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ (1); - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Lắm |