vanban.org

Bản án 81/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 81/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 28/02/2024.
V/v “Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn,
nuôi con chung,”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ - TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thảo Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hồng;

2. Bà Dương Thị Thúy Duy.

- Thư ký phiên toà: Bà Triệu Thị Bình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi – Kiểm sát viên. Ngày 28 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú mở xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 04/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp xin ly hôn, nợ chung, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1972; cư trú: Tổ D, khóm T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1979; cư trú: Tổ 04, khóm T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang.

(Tất cả có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu kèm theo bà Trần Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Đ là do tự tìm hiểu được cha mẹ đồng ý và sống chung với nhau từ năm 2001 đến nay, không đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến đầu tháng 11/2021 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về kinh tế nên thường xuyên cãi vã, không tìm được tiếng nói chung. Mặc dù đã nhiều lần cố gắng hàn gắn nhưng không thành. Nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn, đời sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Có 02 (hai) con chung tên Lê Thị Cẩm T1, sinh ngày 09/10/2002 và Lê Trần Như Q, sinh ngày 04/10/2011, hiện nay cháu Cẩm T1 đã trưởng thành đi làm tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi cháu Như Q và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Lê Văn Đ trình bày:

Về hôn nhân: Ông thống nhất thời gian tiến tới hôn nhân, thời gian và nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn hôn nhân. Tuy nhiên ông không đồng ý ly hôn vì còn thương vợ thương con.

Về con chung: Thống nhất có 02 con chung với họ tên, ngày tháng năm sinh như bà T trình bày. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn ông tôn trọng ý kiến của con và không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông thống nhất không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Cháu Lê Trần Như Q có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ và không có yêu cầu gì về cha

Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.

Tại phiên tòa, bà T và ông Đ bảo lưu ý kiến.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử vắng mặt, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: Bà T và ông Đ không đăng ký kết hôn nên đề nghị tuyên không công nhận vợ chồng. Về con chung: Bà T được nuôi dạy cháu Lê Trần Như Q, sinh ngày 04/10/2011. Về tài sản chung: Ông bà thống nhất không có nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp: Bà T chung sống với ông Đ đến nay thì không còn hạnh phúc nên ông khởi kiện yêu cầu được ly hôn và nuôi con chung, Tòa án thụ lý vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, nuôi con chung, nợ chung là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Ông Đ hiện có địa chỉ cư trú tại thị trấn L, huyện A. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, An Giang.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hôn nhân: Bà T và ông Đ là do tự tìm hiểu, chung sống với nhau từ năm 2001 nhưng không đăng ký kết hôn nên không được xem là hôn nhân hợp pháp, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên thụ lý, giải quyết theo Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình “Không đăng ký kết hôn mà yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng…”. Do đó, Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận bà T và ông Đ là vợ chồng.

Về con chung: Có 02 (hai) con chung tên Lê Thị Cẩm T1, sinh ngày 09/10/2002 và Lê Trần Như Q, sinh ngày 04/10/2011, hiện nay cháu Cẩm T1 đã trưởng thành đi làm tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với yêu cầu của bà T về con chung Hội đồng xét xử nhận thấy: Cháu Như Q có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ và cháu cũng là con gái rất cần sự gần gũi, chăm sóc từ mẹ nên việc tiếp tục giao cháu Như Q cho bà T nuôi dưỡng là phù hợp với hoàn cảnh hiện tại và quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên tòa hôm nay, bà T và ông Đ thống nhất không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của ông bà.

Hội đồng xét xử giải thích cho các đương sự biết: Bên không trực tiếp nuôi con, không được lợi dụng quyền thăm con hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giao giục con mà gây ảnh hưởng đến việc nuôi dạy con của bên trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông bà thống nhất không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông bà có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác khi có yêu cầu.

Về án phí: Bà T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Các đương sự không phải chịu án phí nào khác.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 53, Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016;

Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T.

1. Về hôn nhân: Không công nhận bà Trần Thị T và ông Lê Văn Đ là vợ chồng.

2. Về con chung: Bà Trần Thị T được tiếp tục nuôi con chung tên Lê Trần Như Q, sinh ngày 04/10/2011. Công nhận tự nguyện của bà T không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung.

Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con không cố định sẽ có thay đổi khi có yêu cầu chính đáng của một hoặc cả hai bên.

Bên không trực tiếp nuôi con, không được lợi dụng quyền thăm con hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giao giục con mà gây ảnh hưởng đến việc nuôi dạy con của bên trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về án phí: Bà Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được chuyển từ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009263 ngày 10/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú (bà T đã nộp đủ). Ông Đ không phải chịu án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/02/2024) thời hạn kháng cáo của bà T và ông Đ được tính theo quy định của pháp luật.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ