- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Hà Thị Minh Liên - tt ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Hà Thị Minh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2023/HSST Ngày: 09/08/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thành Niên
Các hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Nga
Bà Nguyễn Thị Mai Linh
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hằng – Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên tòa: bà Ngô Thị Mai Loan – Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 08 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2023/HSST ngày 05 tháng 07 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2023/HSST ngày 24 tháng 07 năm 2023 đối với bị cáo:
Hà Thị Minh L, sinh năm 1984; Nơi sinh: Hòa Bình; Giới tính: Nữ;
Nơi ĐKHKTT: Tổ 1, phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình;
Chỗ ở hiện nay: Tổ 3, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Hà Minh Đ, Con bà: Đinh Thị T; Chồng: Không; Có 01 con; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba.
Tiền sự: Không
Tiền án: 01
- Năm 2016 bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú thọ xử phạt 7 năm tù về tội "Mua
bán trái phép chất ma túy"
* Nhân thân:
- Năm 2003 bị UBND tỉnh Hòa Bình áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
Bị cáo bị giam giữ từ ngày 20/03/2023 đến nay, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H, có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
Anh Đỗ Mạnh Đ, sinh năm 1980
Nơi cư trú: Tổ 8, phường Q, thành phố H, tỉnh Hòa Bình (vắng mặt)
* Người chứng kiến:
Anh Lê Huy H, sinh năm 1977
Nơi cư trú: Tổ 3, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hà Thị Minh L là đối tượng nghiện ma tuý. Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 20/3/20223, do cần mua ma tuý để sử dụng, nên L tìm cách để liên lạc với đối tượng Vương Xuân T (SN 1986, trú tại tổ 7, phường T, TP. H), thường gọi là “T bạ”
là
người
L
quen
biết
từ
trước
và
biết T đó có bán ma tuý, do không có điện thoại để liên lạc, trên đường đi L gặp một người đàn ông không quen biết cùng là người nghiện ma tuý nên bị cáo hỏi mượn điện thoại của người này để gọi cho T, người đàn ông này đồng ý. Qua trao đổi, L và T đã gặp nhau tại khu vực dốc công ty 3/2, thuộc phường T, thành phố H. Tại đây, L đã mua được của T 25 viên hồng phiên và một ít ma tuý đá với số tiền 1.200.000đ, sau khi mua được ma tuý L mang về nhà trọ cất giấu để sử dụng dần. Tại nhà trọ, L bỏ 03 viên ma tuý hồng phiến ra bàn để sử dụng. Đồng thời cho 07 viên ma tuý hồng phiến vào trong 1 túi nilon rồi cất giấu dưới gầm giường. Còn lại 15 viên ma tuý hồng phiến và số ma tuý đá vừa mua được L cho vào 2 túi nilon rồi cất giấu trong túi quần bên trái đang mặc. L đã sử dụng hết 02 viên ma tuý hồng phiến, 1 viên còn lại L bẻ đôi và để trên mặt bàn. Sau khi sử dụng ma túy xong, L rủ Đỗ Mạnh Đ, SN 1980, trú tại tổ 8, phường Q, thành phố H đến nhà chơi và ăn cơm.
Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc L và Đ đang ăn cơm thì bị Tổ công tác Công an phường T, thành phố H phối hợp với Đội CSĐT tội phạm về ma tuý Công an thành phố H làm nhiệm vụ tiến hành kiểm tra cư trú tại số nhà 573, đường An Dương Vương, thuộc tổ 03, phường T, thành phố H, quá trình kiểm tra đã phát hiện bắt quả tang Hà Thị Minh L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trên mặt bàn trong nhà 02 mảnh viên ma tuý hồng phiến (ký hiệu M1); 15 viên ma tuý hồng phiến và gói nilon chứa ma tuý đá trong túi quần bên trái L đang mặc (ký hiệu M2, M3) và 07 viên ma tuý hồng phiến trong túi nilon cất giấu dưới gầm giường trong nhà (ký hiệu M4). (Bút lục 01-03, 29)
Tại Bản kết luận giám định số 119-A/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 28/3/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận: "Chất tinh thể màu trắng ký hiệu M3 trong phong bì niêm phong vật chứng, một mặt có ghi tên đối tượng: Hà Thị Minh L, sinh năm 1984, HKTT: tổ 1, phường P, TP. H, Hoà Bình, chỗ ở: tổ 3, phường T, TP. H, Hoà Bình, gửi giám định có khối lượng 0,39g, là ma tuý, loại Methamphetamine”.
Tại Bản kết luận giám định số 119-B/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 26/5/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận:
"Các mảnh viên nén màu hồng ký hiệu M1 trong phong bì niêm phong vật chứng, một mặt có ghi tên đối tượng: Hà Thị Minh L, sinh năm 1984, HKTT: Tổ 1 phường p , TP H, Hoà Bình, chỗ ở: Tổ 3 Phường T, TP H, Hoà Bình, gửi giám định có tổng khối lương 0,10g là ma tuý, loại Methamphetamine”
"Các viên nén màu hồng ký hiệu M2 trong phong bì niêm phong vật chứng, một mặt có ghi tên đối tượng: Hà Thị Minh L, sinh năm 1984, HKTT: Tổ 1 phường p, TP H, Hoà Bình, chỗ ở: Tổ 3 Phường T, TP H, Hoà Bình, gửi giám định có tổng khối lương 1,54g là ma tuý, loại Methamphetamine”
"Các viên nén màu hồng ký hiệu M4 trong phong bì niêm phong vật chứng, một mặt có ghi tên đối tượng: Hà Thị Minh L, sinh năm 1984, HKTT: Tổ 1 phường p , TP H, Hoà Bình, chỗ ở: Tổ 3 Phường T, TP H, Hoà Bình, gửi giám định có tổng khối lương 0,71g là ma tuý, loại Methamphetamine”
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ và xử lý vật chứng theo quy định.
Tại Cơ quan điều tra, Hà Thị Minh L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Bản cáo trạng số: 71/CT-VKS-TP ngày 04/07/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố: Hà Thị Minh L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Kết thúc tranh tụng, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố; Về tội danh: Đề nghị tuyên bố: Hà Thị Minh L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; Về điều luật và hình phạt: Đề nghị áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, 38 BLHS; Xử phạt: Hà Thị Minh L mức án từ 36 đến 42 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS
+ Tuyên xuất hủy:
- 01 phong bì niêm phong vật chứng một mặt có ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định. Vụ: Hà Thị Minh L, sinh năm 1984 – có hành vi phạm tội về ma tuý. Xảy ra ngày 20 tháng 3 năm 2023. Tại: phường T, thành phố H, tỉnh Hoà Bình”, mép dán niêm phong còn nguyên vẹn, có dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự và các thành phần tham gia niêm phong.
Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 BLTTHS, Nghị Quyết 326/2016/ UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên buộc các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Đề nghị tuyên quyền kháng cáo cho các bị cáo và người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
Về nguồn gốc ma túy, Hà Thị Minh L khai nhận đã của người đàn ông có tên Vương Xuân T thường gọi là “T bạ” ngày 20/3/2023. Quá trình điều tra, chưa đủ cơ sở kết luận Vương Xuân T đã bán ma tuý cho Hà Thị Minh L, do đó Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với Đỗ Mạnh Đ, quá trình điều tra xác định Đ không biết việc L cất giấu và sử dụng ma tuý, bản thân Đồng không sử dụng ma tuý trong nhà L nên không đề cập xử lý.
Đối với người đàn ông đã cho L mượn điện thoại để liên lạc với đối tượng bán ma tuý, do không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo trình bày tranh luận và nói lời nói sau cùng, thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố; Về hình phạt: Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi và Quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì. Do vậy hành vi và quyết định tố tụng đó là hợp pháp.
Tại phiên tòa, người làm chứng, người chứng kiến vắng mặt, nhưng trước đó đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến xét xử, do đó vụ án được tiếp tục xét xử theo thủ tục chung.
Về căn cứ buộc tội, gỡ tội, tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt: Quá trình điều tra và tại phiên tòa Hà Thị Minh L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với với khai tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, vật chứng thu được, kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập, do đo có cơ sở xác định: Ngày 20/03/2023 Hà Thị Minh L đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Hành vi nêu trên của Hà Thị Minh L đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại Điều 249 BLHS.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Hà Thị Minh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hà Thị Minh L là người có đầy đủ khả năng nhận thức và am hiểu pháp luật, biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vì mục đích cá nhân, coi thường pháp luật bị cáo vẫn cố ý thực hiện dẫn đến phạm tội.
Hành vi bị cáo gây ra xâm hại đến chính sách quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự xã hội tại địa phương, làm gia tăng tội phạm trên địa bàn, bên cạnh đó tội phạm về ma túy còn là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm khác, do đó cần xử lý nghiêm minh, có hình phạt tương xứng mới đảm bảo tác dụng giáo dục các bị cáo, đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ là 2,74gam, bị cáo là người có nhân thân xấu, bản thân nghiện chất ma túy lâu năm, đã nhiều lần vi vi phạm pháp luật, năm 2003 bị UBND tỉnh Hòa Bình ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, năm 2016 bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt 7 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", nhưng bị cáo không cải tạo, sửa chữa bản thân, nay tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật. Do đó để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội cần áp dụng hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tác dụng giáo dục các bị cáo.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, cũng cần xem xét tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, từ đó có hình phạt tương xứng là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Xét hiện bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là "tái phạm", do đó áp dụng để tăng nặng trách nhiệm hình sự với bị cáo, tình tiết quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, do đó xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.
Về xử lý vật chứng:
+ Cần tịch thu xuất hủy toàn bộ chất ma túy là vật chứng vụ án.
Vế án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo và người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
Đối với hành vi của đối tượng bán ma túy cho bị cáo, đối tượng cho bị cáo mượn điện thoại để dùng vào việc phạm tội, đối tượng có mặt tại thời điểm bị cáo bị bắt quả tang, kết quả điều tra chưa đủ cơ cở kết luận những người này có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, do đó không đề cập xử lý trong vụ án này.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Hà Thị Minh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, 38 BLHS.
3. Xử phạt: Hà Thị Minh L 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/03/2023.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS
+ Tuyên xuất hủy:
- 01 phong bì niêm phong vật chứng một mặt có ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định. Vụ: Hà Thị Minh L, sinh năm 1984 – có hành vi phạm tội về ma tuý. Xảy ra ngày 20 tháng 3 năm 2023. Tại: phường T, thành phố H, tỉnh Hoà Bình”, mép dán niêm phong còn nguyên vẹn, có dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự và các thành phần tham gia niêm phong.
Vật chứng có đặc điểm như mô tả trong biên bản giao nhận vật chứng số: 83/BB ngày 14 tháng 07 năm 2023, hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H.
5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Hà Thị Minh L phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo.
| Nơi nhận: - TAND tinh HB; - VKSND tỉnh HB; - Sở Tư Pháp tỉnh HB; - VKSND cùng cấp; - CQĐT, CQTHAHS cùng cấp; - THADS cùng cấp; - Bị cáo,người liên quan; - Trại tạm giam; - Công thông tin điện tử TAND; - Lưu HSVA. TÒA ÁN NHÂN DÂN | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Bùi Thành Niên |