- Tranh chấp gì? án hình sự — "Siêng tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lại Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Bộ luật tố tụng hình hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YP TỈNH BN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2023/HSST Ngày 12/7/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YP, TỈNH BN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh H.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế L, ông Nguyễn Văn Đ.
Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Bích N– Thư ký Tòa án nhân dân huyện YP, tỉnh BN.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện YP, tỉnh BN tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Vân A - Kiểm sát viên.
Ngày 12/7/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện YP, tỉnh BN xét xử sơ thẩm công khai hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 72/2023/HSST ngày 01 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2023/QĐXXST-HS, ngày 29/6/2023 đối với bị cáo:
Lại Văn S, sinh năm 1993; Tên gọi khác: không.
Nơi ĐKHKTT: Thôn BS, xã TL, huyện VC, tỉnh YB; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lại Văn P, sinh năm 1967 và con bà Hà Thị L, sinh năm 1967; gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ là Chu Thị N, sinh năm 1994; Con: có 02 con, Con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2014.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2023 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh BN. (Có mặt tại phiên tòa)
* Người tham gia tố tụng khác:
- Ông Nguyễn Đức Đ- Cán bộ Tòa án nhân dân huyện YP (có mặt).
.
- Ông Trần Văn Đ- Cán bộ Công an huyện YP (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bản thân bị cáo là đối tượng sử dụng chất ma túy Heroine từ năm 2018 đến nay, không có việc làm và chỗ ở ổn định. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 13 giờ 15 phút ngày 28/3/2023, bị cáo đi bộ tại thị trấn Chờ, huyện YP, tỉnh BN thì gặp một người đàn ông lái xe ôm khoảng 30 tuổi, bị cáo không quen biết. Khi nói chuyện với người này, bị cáo biết người đàn ông này có sử dụng ma túy. Người này rủ bị cáo đi mua ma túy về để sử dụng, bị cáo đồng ý. Sau đó, người này đưa bị cáo đi mua được của một người đàn ông khoảng 35 tuổi 02 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục là ma túy Heroin, với giá 200.000 đồng. Sau khi đi mua được ma túy, người lái xe ôm và bị cáo đi tìm chỗ để sử dụng ma túy. Khi đang đi trên đường tỉnh lộ 286 thuộc địa phận thôn NN, xã TN, huyện YP, tỉnh BN thì lực lượng Công an xã TN kiểm tra, bắt quả tang bị cáo đang tàng trữ trái phép chất ma túy như đã nêu ở trên. Khi lực lượng Công an bắt bị cáo thì người lái xe ôm đã bỏ chạy thoát.
Vật chứng thu giữ gồm 02 gói giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục tại lòng bàn tay phải của bị cáo. Bị cáo khai nhận đây là ma túy bị cáo mua để sử dụng cho bản thân.
Tại bản kết luận giám định số 781/KL- KTHS ngày 30/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BN kết luận:“Chất bột màu trắng dạng cục bên trong 02 gói giấy màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,1504 gam; Là ma túy; Loại ma túy Heroine…”
Với nội dung trên, tại Cáo trạng số 82/Ctr- VKSYP ngày 31/5/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện YP, tỉnh BN truy tố Lại Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 của BLHS.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện YP, tỉnh BN thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi đánh giá tính chất của vụ án, phân tích, đánh giá các chứng cứ tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố: đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lại Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS. Xử phạt bị cáo Lại Văn S từ 14 đến 16 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/3/2023.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đựng mẫu vật là ma túy còn lại sau giám định và 01 que thử nước tiểu.
Lưu 01 đĩa DVD trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa, bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt với mức thấp nhất và miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện YP, tỉnh BN, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện YP, tỉnh BN, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình hình sự 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Hồi 13 giờ 30 phút ngày 28/3/2023, tại đường tỉnh lộ 286 thuộc địa phận thôn NN, xã TN, huyện YP, tỉnh BN, lực lượng Công an xã TN, huyện YP tiến hành kiểm tra, bắt quả tang Lại Văn S đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,1504 gam heroin để sử dụng cho bản thân. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Lại Văn S đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện YP truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm hại tới chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn làm gia tăng tệ nạn nghiện hút trong xã hội, gây tác hại cho sức khoẻ người sử dụng, nhân cách con người và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật khác. Do vậy, cần phải xử phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Từ những tình tiết trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Bị cáo không có tài sản, công việc không ổn định và xin được miễn hình phạt bổ sung nên xét thấy cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số mẫu vật là ma túy còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành và 01 que thử nước tiểu cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 đĩa DVD có nội dung ghi âm lời khai của bị cáo khi hỏi cung là tài liệu quan trọng nên cần lưu trong hồ sơ vụ án.
Liên quan trong vụ án còn có người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo và người đàn ông lái xe ôm chở bị cáo đi mua ma túy. Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của những người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện YP không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Lại Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, khoản 1 Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Lại Văn S 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/3/2023. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật là ma túy còn lại sau giám định và 01 que thử nước tiểu (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/6/2023).
Lưu 01 đĩa DVD trong hồ sơ vụ án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh BN - VKS ND huyện YP; - THADS huyện YP; - Công an huyện YP; - Bị cáo; đương sự: - Lưu HS, VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Minh H |