vanban.org

Bản án 81/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 09/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thành D, Huỳnh Văn T, Trần Văn K, Tạ Văn

Th phạm tội “Đánh bạc”. Hình sự xử phạt: Bị cáo Tạ Văn Th 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành D và đồng phạm - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thành D, Huỳnh Văn T, Trần Văn K, Tạ Văn
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2023/HS-ST
Ngày: 09/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Cửu Long

Ông Phạm Văn Phước

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân

dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên

tòa: Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức

xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2023/TLST-HS ngày 12

tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2023/QĐXXST-

HS ngày 10 tháng 02 năm 20232 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thành D; Sinh ngày 28 tháng 12 năm 1986 tại Quảng Ngãi; Địa

chỉ thường trú: Ấp A, xã B, thành phố C, tỉnh D; Nơi cư trú: Nhà trọ A, Tổ B, Khu

phố C, phường D, thành phố E, Thành phố F; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ

học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt

Nam; Con ông (không rõ) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964; Có vợ và 01 con

sinh năm 2006; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày

03/9/2022 đến ngày 08/9/2022 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi

khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

2. Trần Văn K; Sinh ngày 21 tháng 4 năm 1983 tại tỉnh K; Địa chỉ thường

trú: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh D; Nơi cư trú: nhà A, Khu phố B, phường C,

Thành phố D, thành phố E; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 05/12;

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông

Trần Văn Kh (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm: (không rõ); Có vợ và 01

con sinh năm 2013; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày

03/9/2022 đến ngày 08/9/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi

cư trú. (Có mặt).

3. Huỳnh Văn T; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1986 tại tỉnh E; Địa chỉ

thường trú: Tổ A, ấp B, xã C, huyện D, tỉnh E; Nơi cư trú: nhà không số đường A, Tổ B, Khu phố C, phường D, thành phố E, Thành phố F; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1954 (đã chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1953; Có vợ và hai con, con lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2010; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 03/9/2022 đến ngày 08/9/2022 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).

4. Tạ Văn Th; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1993 tại tỉnh C; Địa chỉ thường

trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh D; Nơi cư trú: khối A, lô B, chung cư C, phường D, thành phố E, Thành phố F; Chổ ở hiện nay: Nhà trọ không số, đường A, khu phố B, phường C, thành phố D, Thành phố E; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tạ Quang T, sinh năm 1938 (đã chết) và bà Trần Thị H, sinh năm 1948; Có vợ và hai con, con lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/9/2022 (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 03 tháng 9 năm 2022, Đội Cảnh sát Hình sự

Công an thành phố Thủ Đức tiến hành bắt quả tang Nguyễn Thành D, Tạ Văn Th, Huỳnh Văn T, Trần Văn K đang chơi đánh bạc ăn thua bằng tiền với nhau dưới hình thức đánh bài binh xập xám tại bãi đất trống trước công trình xây dựng A, số B đường C, phường D, thành phố E, Thành phố F. D, Th, T, K sử dùng một bộ bài tây 52 lá thay nhau chia bài, không có người làm cái, chia cho bốn người, mỗi người được chia 13 lá bài. D, Th, T, K xếp bài thành ba chi: một chi đầu là 5 lá bài, một chi giữa 5 lá bài, một chi cuối 3 lá bài. Sau đó cả bốn người chơi xếp bài và so kết quả xếp bài, người nào có bài thắng lớn được từ 2 đến 3 chia bài của người khác sẽ thắng cược. Người thắng được số tiền cược 150.000 đồng, ba người thua bị mất số tiền 50.000 đồng mỗi người. Ngoài ra, trong mỗi ván bài, các đối tượng còn cá cược lá xì (lá Át), người chơi được chia bài không có lá xì thì bị mất số tiền 200.000 đồng, người chơi được chia bài có 2 đến 3 lá xì sẽ được tiền cược từ người không có lá xì.

Khi chơi, D mang theo số tiền 4.500.000 đồng và dùng hết số tiền này để

đánh bạc. Ban đầu D chơi với Tạ Văn Th, Huỳnh Văn T và một người thanh niên tên T1 (chưa rõ lai lịch), sau đó thì T1 nghỉ và Trần Văn K vào thế. Quá trình chơi, D ăn được 100.000 đồng, khi bị bắt quả tang thu giữ của D số tiền 4.600.000 đồng dùng để đánh bạc. Th mang theo 1.500.000 đồng để đánh bạc, khi đánh th thua 400.000 đồng, khi bị bắt quả tang thu giữ 1.100.000 đồng dùng để đánh bạc. T mang theo 3.000.000 đồng nhưng chỉ sử dụng 1.500.000 đồng để đánh bạc, khi chơi T thắng 1.850.000 đồng, khi bị bắt quả tang bị thu giữ 4.850.000 đồng, số

tiền dùng để đánh bạc là 3.350.000 đồng. K mang theo 11.700.000 đồng, sử dụng

2.000.000 đồng để đánh bạc, khi chơi thua 200.000 đồng, khi bị bắt quả tang bị

thu giữ 11.500.000 đồng, số tiền dùng để đánh bạc là 1.800.000 đồng.

Vật chứng: Một bộ bài tây 52 lá; Số tiền 10.850.000 đồng dùng để đánh

bạc, trong đó thu của Nguyễn Thành D số tiền 4.600.000 đồng thu trong người,

Tạ Văn Th số tiền 1.100.000 đồng thu trong người, Huỳnh Văn T số tiền

3.350.000 đồng thu trên chiếu bạc, Trần Văn K số tiền 1.800.000 đồng thu trong

người, đây là số tiền các đối tượng D, Th, T, K sử dụng để đánh bạc ăn thua với

nhau.

Đồ vật, tài sản tạm giữ: Số tiền 1.500.000 đồng tạm giữ của Huỳnh Văn T;

Số tiền 9.700.000 đồng tạm giữ của Trần Văn K.

Bản cáo trạng số 36/CT-VKSTPTĐ ngày 06/01/2023 của Viện kiểm sát

nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố Nguyễn Thành D, Tạ Văn Thác, Huỳnh

Văn T, Trần Văn K về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình

sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh

luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử

tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thành D, Tạ Văn Th, Huỳnh Văn T, Trần Văn K

phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; khoản 1 Điều 321 của Bộ

luật Hình sự xử phạt Nguyễn Thành D, Tạ Văn Th, Huỳnh Văn T, Trần Văn K

mỗi bị cáo mức án từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; tịch thu, nộp

ngân sách nhà nước số tiền 10.850.000 đồng dùng để đánh bạc; tịch thu, tiêu hủy

01 bộ bài tây 52 lá; trả lại Huỳnh Văn T số tiền 1.500.000 đồng, trả lại Trần Văn

K số tiền 9.700.000 đồng.

Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng;

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Các bị cáo

nói lời sau cùng biết lỗi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố

Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát

viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự,

thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa,

các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến

hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của

Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 03

tháng 9 năm 2022, Nguyễn Thành D, Tạ Văn Th, Huỳnh Văn T, Trần Văn K đã

thực hiện hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền với nhau dưới hình thức đánh bài binh xập xám tại bãi đất trống trước công trình xây dựng A, số B đường C, phường D, thành phố E, Thành phố F, tổng số tiền dùng để đánh bạc là 10.850.000 đồng. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích muốn thỏa mãn động cơ cá nhân nên vẫn cố tình phạm tội với lỗi cố ý. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, phù hợp với sự thật khách quan của vụ án đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Thành D, Tạ Văn Th, Huỳnh Văn T, Trần Văn K phạm tội “Đánh bạc”.

Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ

Đức đối với các bị cáo Nguyễn Thành D, Tạ Văn Th, Huỳnh Văn T, Trần Văn K phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã

xâm phạm đến trật tự công cộng cần phải xử lý nghiêm minh các bị cáo trước pháp luật vì vậy, cần có một mức án nghiêm khắc, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nguyễn Thành D, Tạ Văn Th,

Huỳnh Văn T, Trần Văn K được hưởng tình tiết giảm nhẹ người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, các bị cáo Nguyễn Thành D, Huỳnh Văn T, Trần Văn K được

hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nhân thân các bị cáo tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú ổn định, quá trình tại ngoại chấp hành tốt pháp luật, không vi phạm gì. Chiếu theo chính sách khoan hồng nhân đạo của pháp luật, không cần thiết bắt bị cáo thi hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự, cũng đủ tác dụng đối với bị cáo và nêu gương phòng ngừa chung.

Đối với bị cáo Tạ Văn Th, mặc dù đã được áp dụng biện pháp ngăn

chặn cấm đi khỏi nơi cư trú khỏi nơi cư trú tại địa chỉ khối A, lô B, chung cư C, phường D, thành phố E, Thành phố F từ ngày 03/9/2022 đến nay, nhưng bị cáo đã tự ý chuyển nơi cư trú khi chưa được sự đồng ý của các cơ quan tiến hành tố tụng, hiện không có nơi cư trú ổn định nên không được xem xét hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.

Về các biện pháp tư pháp: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền

10.850.000 đồng dùng để đánh bạc.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá; Trả lại cho

Huỳnh Văn T số tiền 1.500.000 đồng, trả lại cho Trần Văn K số tiền 9.700.000 đồng. Đây là khoản tiền không dùng đánh bạc.

Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng có tên “Thành” chưa xác định

rõ lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phốThủ Đức tiếp tục xác

minh làm rõ xử lý sau.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết

số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ

Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thành D, Huỳnh Văn T, Trần Văn K, Tạ Văn

Th phạm tội “Đánh bạc”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật

Hình sự xử phạt: Bị cáo Tạ Văn Th 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt

chấp hành án.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của

Bộ luật Hình sự xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Thành D 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời

gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án.

Bị cáo Huỳnh Văn T 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian

thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án.

Bị cáo Trần Văn K 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử

thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Thành D, Trần Văn K cho Ủy ban nhân dân phường An

Phú, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời

gian thử thách của án treo.

Giao bị cáo Huỳnh Văn T cho Ủy ban nhân dân phường Phú Hữu, thành phố

Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của

án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện

theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ

02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải

chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

5. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng

Hình sự:

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 10.850.000 (Mười triệu tám trăm

năm mươi nghìn) đồng;

Tịch thu, tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá;

Trả cho Huỳnh Văn T số tiền 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng.

Trả cho Trần Văn K số tiền 9.700.000 (Chín triệu bảy trăm nghìn) đồng.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 23/QĐ-VKSTPTĐ ngày 03/01/2023

của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức; Giấy nộp tiền mặt ngày 05/01/2023, Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/01/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).

6. Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án, mỗi bị cáo Tạ Văn Th, Nguyễn Thành D, Huỳnh Văn T, Trần Văn K phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

7. Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự các bị cáo có

quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

(Đã giải thích chế định án treo cho các bị cáo)

Cỡ chữ