vanban.org

Bản án 81/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 06/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

T2 bố bị cáo Châu Thị Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Châu Thị Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất…"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOØA AÙN NHAÂN DAÂN
HUYỆN VĨNH CỬU
TÆNH ÑOÀNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2023/HS-ST
Ngày: 06 - 6 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU - TỈNH ĐỒNG NAI

-Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đại.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Ngọc Cúc.

2. Ông Nguyễn Ngọc Anh.

-Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Vạn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu.

-Đại diện VKSND huyện Vĩnh Cửu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Bắc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

1. Châu Thị Ngọc T, tên gọi khác: không; sinh năm 1990, tại tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: tổ 15, khu phố 1, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đ; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Châu Văn B, sinh năm 1966 và bà Trương Thị A, sinh năm 1966; có chồng là Trần Đức T, sinh năm 1993 và có 04 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án: không; tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 10/11/2009, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 08/9/2009.

Bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 11/11/2022 đến ngày 14/11/2022. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo “có mặt”.

2. Nguyễn Tuấn K, tên gọi khác: không; sinh năm 1995, tại Đồng Nai; nơi cư trú: tổ 8, khu phố 1, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đ; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1971 (đã chết) và bà Nguyễn Kim P, sinh năm 1970; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 08/12/2011, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm tính từ ngày T2 án về tội “Cố ý gây thương tích”.

Bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 11/11/2022 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Vĩnh Cửu. Bị cáo “có mặt”.

3. Nguyễn Khoa Tr, tên gọi khác: không; sinh năm 1987, tại tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: tổ 11, khu phố 1, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đ; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thông, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị Lệ Thủy, sinh năm 1958; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: không.

Bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 11/11/2022 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Vĩnh Cửu. Bị cáo “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Châu Thị Ngọc T, Nguyễn Tuấn K, Nguyễn Khoa Tr và Lâm Trần V thường xuyên cùng sử dụng ma túy với nhau nên biết đối tượng T1 (không rõ họ, địa chỉ) sống tại khu vực ngã tư Tân Lập, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai có số điện thoại 0392.966816 để liên hệ mua bán ma túy.

Khoảng 20 giờ ngày 10/11/2022, T đến nhà K tại khu phố 1, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đ và gọi điện thoại cho T1 hỏi mua một gói ma túy đá có giá 500.000 đồng và giao ma túy tại nhà K, T1 đồng ý và hẹn đến khoảng 03 giờ ngày 11/11/2022 sẽ giao ma túy cho T. Sau đó T đến tiệm điện thoại Tuấn Trung thuộc khu phố 5, thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai cầm điện thoại hiệu Sam sung của T cho anh Nguyễn Đức T2, sinh năm 1984 chủ tiệm lấy 1.500.000 đồng, rồi T về nhà tại tổ 15 khu phố 1, thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu. Khoảng 03 giờ ngày 11/11/2022, T đến nhà K nhìn thấy V đã có mặt tại đây. Cùng thời điểm này T1 đến giao cho T 01 bọc nilon dạng túi zíp bên trong đựng 07 gói nilon chứa ma túy đá và nhận của T 500.000 đồng.

Khi có ma túy, T hỏi K nơi để dụng cụ sử dụng ma túy (còn gọi là nỏ thủy tinh), được K chỉ dẫn nên T lấy dụng cụ sử dụng ma túy đồng thời lấy 01 cục ma túy đựng trong gói nilon lớn nhất ra rồi hàn kín bịch lại cất vào bọc nilon dạng túi zíp. T tách cục ma túy lấy một phần nhỏ bỏ vào nỏ thủy tinh cùng với K và V sử dụng. Số ma túy còn lại T bỏ vào túi nilon của bao thuốc lá. Sau khi sử dụng ma túy, T lấy túi zip đựng 07 gói nilon chứa ma túy đá giấu trong nhà K nhưng không cho K biết. T mang số ma túy đựng trong túi nilon của bao thuốc lá về giấu ngoài sân nhà T tại tổ 15 khu phố 1, thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai

Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Nguyễn Khoa Tr đến nhà K rủ K sử dụng ma túy. K không có ma túy nên Tr điều khiển xe mô tô Wave biển số 64H1-3549 đến nhà T hỏi nhờ T hỏi T1 để mua ma túy đá về sử dụng, T không hỏi mà T cho Tr số ma túy giấu ngoài sân. Tr cầm ma túy về nhà K và nói K gọi điện rủ V đến sử dụng ma túy. Khoảng 20 giờ cùng ngày, V đến nhà K và cùng Tr, K xuống dưới bếp lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Tr bỏ ma túy vào nỏ thủy tinh nấu lên cùng K, V sử dụng ma túy. T không biết Tr tổ chức cho K và V sử dụng ma túy. Một lát sau T đến nhà K chơi.

Khoảng 21 giờ cùng ngày, Tổ công tác 161 thuộc Công an huyện Vĩnh Cửu tuần tra thấy K, Tr, V, T đang tụ tập tại nhà K có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra phát hiện tại phòng khách nhà K có bịch nilon dạng túi zíp bên trong đựng 07 gói nilon hàn kín chứa tinh thể màu trắng do T cất giấu trước đó. Lực lượng Công an tiếp tục kiểm tra thu giữ tại phòng bếp 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang xử lý theo quy định pháp luật.

+ Tang vật, tài sản tạm giữ: 01 bịch nilon dạng túi zíp bên trong đựng 07 gói nilon hàn kín, trong mỗi gói chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá (đã được niêm phong); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm bình nhựa, nỏ, ống hút; 01 xe mô tô 64H1-3549.

+ Đối với điện thoại Samsung, T sử dụng gọi cho T1 mua ma túy, anh T2 kiểm tra sổ sách không thể hiện nhận cầm điện thoại của T nên không có căn cứ thu hồi.

+ Tại Kết luận giám định số 2410/KL-KTHS ngày 18/11/2022 của Giám định viên Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy có khối lượng 0,7043 gam loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng sau giám định trong niêm phong số 2410/KL-KTHS.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Bản cáo trạng số: 81/CT-VKSVC ngày 28/4/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Châu Thị Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nguyễn Tuấn K về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nguyễn Khoa Tr về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ T2 bố bị cáo Châu Thị Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Châu Thị Ngọc T từ 14 đến 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;

+ T2 bố bị cáo Nguyễn Tuấn K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn K từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù;

+ T2 bố bị cáo Nguyễn Khoa Tr phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Khoa Tr từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

+ Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định và 01 tẩu ống thủy tinh trong niêm phong số 2410/KL-KTHS, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm bình nhựa, nỏ, ống hút.

- Xe mô tô biển số 64H1-3549 do bà Nguyễn Thị Lệ Thủy - sinh năm 1968 ngụ tại tổ 11, khu phố 1, thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu là mẹ của Nguyễn Khoa Tr mua lại nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 11/11/2022, bà Thủy cho Tr mượn xe mô tô để đi đám cưới và không biết Tr điều khiển xe mô tô đến nhà T lấy ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu đã giao trả xe mô tô cho bà Thủy.

+ Về án phí các bị cáo phải chịu theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo Châu Thị Ngọc T, Nguyễn Tuấn K, Nguyễn Khoa Tr đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo đúng như nội dung được tóm tắt ở phần trên.

Lời nói sau cùng, bị cáo đã ăn năn hối hận về hành vi mà bị cáo đã gây ra, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng hình sự:

Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về căn cứ kết tội bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Châu Thị Ngọc T, Nguyễn Tuấn K, Nguyễn Khoa Tr đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có tại hồ sơ vụ án, xét có đủ cơ sở kết luận:

- Khoảng 03 giờ ngày 11/11/2022, tại nhà Nguyễn Tuấn K thuộc tổ 8, khu phố 1, thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu, Châu Thị Ngọc T cung cấp ma túy và Nguyễn Tuấn K tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Methamphetamine) cho mình và Lâm Trần V. Sau đó T tàng trữ trái phép 0,7043 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích sử dụng.

- Khoảng 20 giờ ngày 11/11/2022, tại nhà Nguyễn Tuấn K thuộc tổ 8, khu phố 1, thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu, Nguyễn Khoa Tr cung cấp ma túy và cùng Nguyễn Tuấn K tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine cho chính mình và Lâm Trần V.

Châu Thị Ngọc T thực hiện hành vi tổ chức cho T, K, V sử dụng trái phép ma túy; tàng trữ trái phép chất ma túy.

Nguyễn Khoa Tr thực hiện các hành vi tổ chức cho Tr, K, V sử dụng trái phép ma túy.

Nguyễn Tuấn K cung cấp địa điểm, bộ dụng cụ để cùng T, Tr tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Hành vi của bị cáo Châu Thị Ngọc T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt là “đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi của bị cáo Nguyễn Tuấn K đã đủ yếu tố cấu thành “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với 02 tình tiết định khung hình phạt là “đối với 02 người trở lên” và “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi của bị cáo Nguyễn Khoa Tr đã đủ yếu tố cấu thành “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với 01 tình tiết định khung hình phạt là “đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tính chất, mức độ phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo biết ma túy là chất gây nghiện có tác hại rất lớn đối với xã hội và người sử dụng, mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đều bị pháp luật nghiêm cấm. Bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật đã thực hiện hành vi như đã nêu trên. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về nhân thân:

Bị cáo Châu Thị Ngọc T là người có nhân thân xấu, cụ thể: ngày 10/11/2009, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Nguyễn Tuấn K là người có nhân thân xấu, cụ thể: Ngày 08/12/2011, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm tính từ ngày T2 án về tội “Cố ý gây thương tích”.

Bị cáo Nguyễn Khoa Tr là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Châu Thị Ngọc T, Nguyễn Tuấn K và Nguyễn Khoa Tr không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Châu Thị Ngọc T trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Do đó, cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bị cáo Nguyễn Tuấn K và Nguyễn Khoa Tr trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong số: 2410/KL-KTHS ngày 18/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai, tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm bình nhựa, nỏ, ống hút, tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 xe mô tô biển số 64H1-3549 do bà Nguyễn Thị Lệ T, sinh năm 1968 ngụ tại tổ 11, khu phố 1, thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu là mẹ của Nguyễn Khoa Tr mua lại nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 11/11/2022, bà T cho Tr mượn xe mô tô để đi đám cưới và không biết Tr điều khiển xe mô tô đến nhà T lấy ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu đã giao trả xe mô tô cho bà T.

Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Về đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Các vấn đề khác:

Đối với tên T1 có hành vi bán ma túy cho Châu Thị Ngọc T yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu tiếp tục xác minh làm rõ xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với Lâm Trần V có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu đã quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Đối với bà Nguyễn Thị Lệ T cho Tr mượn xe mô tô biển số 64H1-3549 nhưng không biết Tr điều khiển đi lấy ma túy về tổ chức sử dụng nên không có căn cứ xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

T2 bố bị cáo Châu Thị Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

T2 bố bị cáo Nguyễn Tuấn K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

T2 bố bị cáo Nguyễn Khoa Tr phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt: bị cáo Châu Thị Ngọc T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về “tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi thi hành án hoặc bị áp giải đi thi hành án. Được trừ những ngày tạm giữ từ ngày 11/11/2022 đến ngày 14/11/2022.

- Áp dụng Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn K 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/11/2022.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Khoa Tr 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/11/2022

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong số: 2410/KL-KTHS ngày 18/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm bình nhựa, nỏ, ống hút.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23, Điều 24 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Châu Thị Ngọc T, Nguyễn Tuấn K và Nguyễn Khoa Tr mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày T2 án.

Cỡ chữ