vanban.org

Bản án 81/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 18/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bộ lu t hình sự; Xử phạt: Nguyễn Văn Tr 08(tám) năm 04(bốn) tháng t về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn t tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 05/10/2023.

Phạt bổ sung b ng tiền đối với bị cáo Tr 5.000.000đồng nộp ngân sách nhà Bộ lu t hình sự; Xử phạt: Trần Minh Trung H 01 (một) năm 02 (hai) tháng t về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn t tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 05/10/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Tr - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bộ lu t hình sự; Xử phạt: Nguyễn Văn Tr 08(tám) năm 04(bốn) tháng t về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn t tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 05/10/2023.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:81/2023/HS-ST
Ngày 18/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Vân Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Nguyễn Quốc Sửu

2. Ông: Trần Anh D

Thư ký phiên toà: ông Đặng Xuân Trường – Thẩm tra viên Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Ông

Vi Văn Cảnh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh

Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 95/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 244/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2023; đối với các bị cáo:

- Nguyễn Văn Tr; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh năm:

1995; Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố T, thị trấn Nh, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang; Nơi ở: Thôn Đ, xã T, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 6/12; Nghề nghiệp: Tự do; Chức vụ: Không có; Con ông: Trương Văn M; Con bà: Nguyễn Thị Tr1. vợ Vũ Thị A (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2014;

- Nhân thân, tiền án, tiền sự: Không có;

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/10/2023, hiện đang bị

tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang (có mặt tại phiên tòa).

- Trần Minh Trung H; Giới tính: Nam;Tên gọi khác: Không có; Sinh năm

1995; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn H1, xã H2, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Chức vụ: Không có; Con ông: Trần Minh L, Con bà: Trịnh Thị M; Vợ: Nguyễn Thị H3, bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 02;

- Tiền án: Không có;

- Tiền sự: Ngày 16/4/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Yên quyết định áp

dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng.

- Nhân thân: Ngày 13/4/2021, bị Công an thị trấn Nh, huyện Tân Yên xử phạt

vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chưa chấp hành nộp phạt, đến nay hết thời hiệu thi hành. Ngày 19/6/2021 bị Công an thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa chấp hành nộp phạt, nay hết thời hiệu thi hành.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 05/10/2023, hiện đang tạm giam tại

trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang (có mặt tại phiên tòa).

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

1. Anh Triệu Văn Ph, sinh năm 1971; nơi ở: Bản V, xã H, thành phố L, tỉnh

Lạng S, (vắng mặt)

2. Anh Trần Minh L, sinh năm 1972, nơi ở Thôn H1, xã H2, huyện Tân Yên

tỉnh Bắc Giang, (vắng mặt)

+ Người làm chứng.

1. Anh Lưu Đức T, sinh năm 1987, nơi ở. Thôn Đ, xã T, huyện Tân Yên, tỉnh

Bắc Giang, (vắng mặt)

2. Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1985. Nơi ở: Thôn Đ, xã T, huyện Tân Yên,

tỉnh Bắc Giang, (vắng mặt).

3. Anh Trần Tuấn A, sinh năm 2001. Nơi ở: Thôn Ng, xã C, huyện Tân Yên,

tỉnh Bắc Giang, (vắng mặt).

4. Anh Lê Văn D sinh năm 1989. Nơi ở: Thôn Tr, xã T, huyện Tân Yên, tỉnh

Bắc Giang, (vắng mặt).

5. Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1993. Nơi ở: Thôn Đ, xã T, huyện Tân Yên,

tỉnh Bắc Giang, (vắng mặt).

6. Chị Nguyễn Như H4, sinh năm 1967. Nơi ở: Tổ dân phố H5, thị trấn C,

huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau.

Khoảng 09 giờ 45 phút ngày 05/10/2023 tại đoạn đường Quốc lộ 17, thuộc tổ dân phố H5, thị trấn C, huyện Tân Yên, tổ công tác Công an huyện Tân Yên đang làm nhiệm vụ thì phát hiện một nam thanh niên điều khiển xe mô tô dừng xe trên vỉa h , có biểu hiện nghi vấn hoạt động tội phạm về ma túy nên tiến hành kiểm tra. Khi tổ công tác tiếp c n, đối tượng thả từ trên tay phải xuống cạnh chỗ đứng các đoạn ống nhựa màu trắng thì đã bị tổ công tác khống chế. Đối tượng khai tên là Trần Minh Trung H, sinh năm 1995, ở thôn H1, xã H2, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, các đoạn ống nhựa H vừa thả xuống đất là ma túy Heroine H mua của Nguyễn Văn Tr ở Thôn Đ, Tân Yên về để sử dụng, tổ công tác tiến hành l p biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Minh Trung H về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. V t chứng khi bắt quả tang bao gồm:

- Thu giữ trên nền đất cạnh chỗ Trần Minh Trung H đứng 04 (bốn) đoạn ống

nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi đoạn đều đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT H”.

- Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái H ng mặc 01 (một) chiếc điện thoại

di động nhãn hiệu Iphone màu xám đã qua sử dụng, màn hình có vết nứt v , có số IMEI: 354392062914216, lắp sim điện thoại số 0944.495.362.

- Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải H ng mặc: 01 (một) ví da màu nâu,

bên trong có: 01 căn cước công dân số 024095017700; 01 đăng ký mô tô, xe máy số A0048423 do Công an tỉnh Lạng S cấp mang tên Triệu Văn Ph, nơi thường trú: Bản Viển, Hoàng Đồng, thị xã Lạng S. 01 xi lanh b ng nhựa, loại 3ml/cc đã qua sử dụng, bên trong không chứa gì. 01 vỏ ống thủy tinh (ống đựng nước cất) đã bị v một đầu, bên trong không chứa gì.

- Trần Minh Trung H tự nguyện giao nộp 01 chiếc xe mô tô kiểu dáng Dream,

nhãn hiệu WOLDWIDE, biển kiểm soát 12F4-2816, số khung và số máy đều là 07129615, kiểm tra xe mô tô không phát hiện đồ v t tài liệu gì liên quan.

Căn cứ lời khai của H, hồi 11 giờ 25 phút c ng ngày, tổ công tác Cơ quan

cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Yên tiến hành kiểm tra nơi ở của Nguyễn Văn Tr tại nhà Đoàn Văn V, ở thôn Đ, xã T, huyện Tân Yên thì phát hiện Tr đang ở trong khu vực bên trong sân nhà V. Khi thấy lực lượng Công an, Tr vứt 01 (một) túi nilon ra khu vực nền đất sát tường gần cổng ra vào, tổ công tác tiến hành khống chế được Tr, kiểm tra phát hiện túi nilon Tr vừa vứt ra là túi ma túy nên tổ công tác Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Yên tiến hành l p biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn Tr về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. V t chứng khi bắt quả tang bao gồm: Thu tại nền đất sát tường gần cổng ra vào nhà Đoàn Văn V 01 túi nilon một đầu có rãnh khoá b ng nhựa có đường viền đỏ, bên trong đựng 46 (bốn mươi sáu) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, trong đó có 44 (bốn mươi bốn) đoạn ống nhựa bên trong đều chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma tuý Heroine, 02 (hai) đoạn ống nhựa bên trong mỗi đoạn đều đựng một mảnh viên nén hình tròn màu hồng đỏ nghi là ma tuý tổng hợp hồng phiến và 01 gói nilon màu trắng được hàn kín, bên trong có 01 gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc, bên trong gói giấy bạc chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma tuý Heroine được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT”.

Ngoài ra, Nguyễn Văn Tr tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu

Iphone, màu trắng có số IMEI: 352993094398617, lắp sim số 0962.686.343 và chiếc xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI RAIDER, biển kiểm soát 98 - H1 360.13

Ngay sau khi bắt quả tang, Cơ quan điều tra tiến hành xét khẩn cấp nơi ở của

Tr tại thôn Đ, xã T, huyện Tân Yên, kết quả không thu giữ đồ v t tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Cơ quan điều tra tiến hành test nhanh chất ma túy trong nước tiểu của Trần

Minh Trung H và Nguyễn Văn Tr, kết quả Tr và H đều dương tính với ma túy Mor

Cơ quan điều tra công an huyện Tân Yên đã trưng cầu Phòng Kỹ thu t hình sự

Công an tỉnh Bắc Giang giám định số v t chứng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “ QT” và “QT H” có phải là ma túy không, loại ma túy gì, có khối lượng bao nhiêu.

Tại Kết lu n giám định số 1880/KL-KTHS ngày 09/10/2023 của Phòng Kỹ

thu t hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết lu n: Trong 01 phong bì có ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định; Trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa b ng nhựa, viền màu đỏ: Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc, được đựng trong 01 gói nilon màu trắng được hàn kín là ma túy, loại Heroine, (Heroin) có khối lượng 7,583gam; Chất cục bột màu trắng đựng trong 44 đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu đều là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tổng khối lượng 2,046gam.

Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại

Bộ lu t hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

- 02 mảnh viên nén màu hồng đỏ đựng trong 02 đoạn ống nhựa màu trắng

được hàn kín hai đầu đều là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,103gam.

Tại Kết lu n giám định số 1881/KL-KTHS ngày 09/10/2023 của Phòng Kỹ

thu t hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết lu n:

Trong 01 phong bì có ký hiệu “QT H” được niêm phong gửi giám định:

Chất cục bột màu trắng đựng trong 04 đoạn ống nhựa màu trắng, được hàn

kín hai đầu đều là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tổng khối lượng 0,193gam.

Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại

Bộ lu t hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Quá trình điều tra, ban đầu Tr không thừa nh n bán ma túy cho H như H đã

khai, Tr khai số ma túy mà Tr bị Công an thu giữ khi bị bắt quả tang Tr mua về để sử dụng cho bản thân. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra Tr đã thay đổi lời khai, Tr thừa nh n buổi sáng ngày 05/10/2023, Tr đã bán 01 gói ma túy cho H và khai nh n nguồn gốc số ma túy cụ thể như sau:

Do có mối quan hệ quen biết nên Tr đến ở nhờ nhà của Đoàn Văn V, 0 ở thôn

Đ, xã T, huyện Tân Yên. Khoảng gần 08 giờ ngày 05/10/2023, Tr điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI RAIDER, biển kiểm soát 98H1- 360.13 lên khu vực bờ đê gần nhà nghỉ Hoa Sữa thuộc xã Tân Hòa, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên mục đích tìm mua ma túy về để bán kiếm lời. Tại đây, Tr gặp một người đàn ông không quen biết, Tr hỏi mua 7.000.000đồng ma túy Heroine của người đàn ông đó thì người đàn ông đồng ý. Tr đưa tiền cho người đàn ông, người này cầm tiền đi khoảng 15 phút sau quay lại bảo Tr đi theo khoảng 100m, thì người đàn ông đó chỉ vị trí lấy ma túy ở rìa đường. Tr xuống xe nhìn thấy 01 gói nilon đựng ma túy đang được để ở rìa đường, Tr cầm gói ma túy đút vào trong túi quần rồi đi về nhà V. Tr bỏ gói ma túy ra kiểm tra thấy bên trong gói ni lon có gói giấy bạc, bên trong có chất cục bột màu trắng là ma túy Heroine và một viên nén hình tròn màu hồng đỏ là ma túy tổng hợp. Tr chia nhỏ một phần số ma túy này ra cho vào các đoạn ống nhựa, d ng b t lửa hàn kín hai đầu ống lại. Khoảng 09 giờ c ng ngày thì có H gọi điện hỏi mua ma túy của Tr thì Tr đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe mô tô kiểu dáng Dream, lên nhà V (khi điều khiển xe mô tô H không đội mũ bảo hiểm). Trên đường đi, H rẽ vào một hiệu thuốc tây ở khu vực thị trấn C mua 01 xi lanh và 01 lọ nước cất để sử dụng ma túy. Khoảng 09 giờ 13 phút, Tr gọi điện thoại cho H hỏi H lấy bao nhiêu tiền để Tr gói sẵn ma túy, H nói để cho H 500.000 đồng ma túy Heroine. Sau khi gọi điện thoại cho H xong, Tr lấy bao thuốc lá Thăng Long rút phần giấy bạc bên trong ra, gói 06 đoạn ống nhựa đựng ma túy Heroine để bán cho H. Khoảng 09 giờ 20 phút c ng ngày, H đến cổng nhà V, H gọi điện cho Tr thông báo cho Tr biết là H đang ở cổng. Lúc này, Tr cầm gói giấy bạc đựng 06 đoạn ống nhựa đựng ma túy Heroine từ trong nhà đi ra đưa qua lỗ cánh cổng ra ngoài cho H, H cầm gói ma túy và đưa cho Tr qua lỗ cánh cổng số tiền 500.000 đồng. Tr cầm tiền cất vào túi quần đang mặc, rồi đi vào trong sân bỏ một ít ma túy trong gói giấy bạc ra sử dụng, sau khi sử dụng xong Tr đi chợ. Còn H, sau khi mua được ma túy của Tr, H điều khiển xe mô tô đi về, khi đi đến khu vực tổ dân phố H5, thị trấn C thì H rẽ vào 01 ngôi nhà hoang sử dụng hết ma túy trong 02 đoạn ống nhựa, sau đó vứt mảnh giấy bạc c ng 02 vỏ đoạn ống nhựa xuống mương nước cạnh đó, còn 04 đoạn ống nhựa đựng ma túy H lại gói lại như cũ rồi điều khiển xe mô tô về, khi đi được một đoạn H định vào quán nước ven đường để uống nước thì bị lực lượng Công an huyện Tân Yên phát hiện bắt quả tang, thu giữ v t chứng như đã nêu trên.

Nguyễn Văn Tr sau khi đi chợ về thì Tr ở nhà V, đến khoảng 11 giờ 15 phút

c ng ngày khi Tr đang đứng ở sân nhà V thì thấy lực lượng Công an huyện Tân Yên đến nên Tr cầm số ma túy còn lại ném về phía tường rào sát cổng thì bị lực lượng Công an khống chế, thu giữ toàn bộ số ma túy như trên.

Ngày 06/11/2023, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại đã thu giữ

khi bắt quả tang Tr và H. Kết quả kiểm tra đã phát hiện 03 cuộc gọi trao đổi liên lạc giữa số thuê bao 0944.495.362 của H với số thuê bao 0962.686.343 của Tr.

Ngày 10/11/2023, Cơ quan điều tra tiến hành cho H và Tr nh n dạng qua

ảnh. Kết quả, H nh n ra Nguyễn Văn Tr là người đã bán ma túy cho H vào ngày 05/10/2023; Tr nh n ra H chính là người đã mua ma túy của Tr vào ngày 05/10/2023.

Ngày 11/11/2023, Cơ quan điều tra tiến hành cho H và Tr thực nghiệm điều

tra tại khu vực cổng nhà của Đoàn Văn V. Kết quả thực nghiệm Tr và H thực hiện thuần thục hành vi mua, bán trái phép chất ma túy, ph hợp với lời khai của Tr và H.

Tại cơ quan điều tra các bị cáo đã khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội của

mình Tại cáo trạng số 88/CT-VKS, ngày 29/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên đã truy tố Nguyễn Văn Tr về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i, khoản 2, Điều 251 và Trần Minh Trung H về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1, điều 249 Bộ lu t Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay sau phần xét hỏi, tại phần tranh lu n Đại diện Viện

kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên thực hành quyền công tố đã lu n tội đối với các bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử.

Áp dụng điểm i, khoản 2, khoản 5, điều 251, điểm s, khoản 1, điều 51, Điều 38

của Bộ lu t Hình sự: Xử phạt Nguyễn Văn Tr từ 08 năm, 06 tháng đến 08 năm 10 tháng t về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn t được tính từ ngày tạm giữ 05/10/2023.

Phạt bổ sung b ng tiền đối với bị cáo từ 5.000.000đ đến 10.000.000đồng nộp

ngân sách nhà nước.

Áp dụng điểm c, khoản 1, điều 249, điểm s, khoản 1, khoản 2, điều 51, Điều

38 của Bộ lu t Hình sự: Xử phạt: Trần Minh Trung H từ 14 tháng đến 16 tháng t về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. thời hạn t được tính từ ngày 05/10/2023.

Về v t chứng: Áp dụng các điểm b, a, c, khoản 1, Điều 47 Bộ lu t hình sự:

điểm a, b, khoản 2, điểm b, khoản 3, Điều 106 Bộ lu t Tố tụng hình sự.

+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone, màu

trắng, số IMEI: 352993094398617, lắp sim số 0962.686.343; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám, màn hình có vết nứt v có số IMEI: 354392062914216, lắp sim điện thoại số 0944.495.362; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI RAIDER, biển kiểm soát 98 - H1 360.13.

Truy thu số tiền 500.000đ tiền Tr bán ma túy cho H

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định (đã được niêm

phong theo quy định); 01 xi lanh, 01 một vỏ ống thủy tinh.

Trả lại bị cáo H 01 ví da, 01 căn cước công dân số 024095017700

Đối với 02 vỏ đoạn ống nhựa và mảnh giấy bạc H d ng để sử dụng ma túy,

H khai đã vứt tại mương nước gần ngôi nhà hoang, 01 b t lửa Tr D ng để hàn đầu các ống nhựa Tr để đâu không nhớ. Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thấy.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12F4-2816 và đăng ký xe mô tô ông L

là bố đẻ của H, ông L mua của ông Triệu Văn Phượng ở Bản V, H, Lạng S từ đầu năm 2023, ông L cho H mượn xe để đi lại. Kết quả tra cứu xác định chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy v t chứng. Ngày 05/10/2023 khi điều khiển xe mô tô đi mua ma túy thì H không đội mũ bảo hiểm nên Cơ quan điều tra chuyển tài liệu liên quan và chiếc xe k m theo đăng ký xe mô tô đến Đội cảnh sát giao thông tr t tự Công an huyện Tân Yên để xử lý hành chính theo quy định của pháp lu t.

Ngoài ra còn để nghị xử lý tiền án phí, quyền kháng cáo theo quy định của

pháp lu t:

Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội như

bản Cáo trạng đã nêu, các bị cáo không tranh lu n gì mà chỉ đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, người liên quan không có gì tranh lu n.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nh n định như sau:

[1.] Về Tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra

công an huyện Tân Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ lu t Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng

mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Nên hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điều 292; Bộ lu t tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người trên.

[2.]Về tội danh:

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay. Nguyễn Văn Tr thừa

nh n. Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 05/10/2023 Nguyễn Văn Tr có hành vi bán trái phép 06 đoạn ống nhựa đựng ma túy Heroine cho Trần Minh Trung H ở thôn Hòa Mkinh, xã H2, huyện Tân Yên với giá 500.000đồng, sau khi mua được ma túy H đã sử dụng ma túy trong 2 đoạn ống nhựa, còn lại 0,193 gam ma túy Heroine đựng trong 4 đoạn ống nhựa H chưa kịp sử dụng thì bị bắt giữ. Ngoài ra Tr còn có hành vi tàng trữ 9,629 gam ma túy Heroine và 0,103 gam ma túy Methamphetamine mục đích để bán kiếm lời.

Trần Minh Trung H có hành vi tàng trữ trái phép 0,193 gam ma túy Heroine

mục đích sử dụng cho bản thân.

Như v y lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, ph hợp với lời khai của các bị

cáo tại cơ quan điều tra, ph hợp với lời khai người làm chứng, ph hợp với tang v t chứng đã thu giữ được, ph hợp với kết lu n giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Điều đó có đủ cơ sở chắc chắn khẳng định: Nguyễn Văn Tr phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i, khoản 2, điều 251 Bộ lu t hình sự; Trần Minh Trung H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ lu t hình sự. Như v y Cáo trạng số 88/CT-VKS-YT ngày 29/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp lu t.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp

xâm phạm đến quyền độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, không những thế việc mua bán, tàng trữ, sử dụng chất ma túy còn làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người khác, suy thoái đạo đức xã hội, gây mất tr t tự trị an tại địa Ph. Trong tình hình xã hội hiện nay, tệ nạn ma tuý đang là một trong những vấn nạn của xã hội và ngày càng có diễn biến phức tạp, tinh vi hơn, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến nhiều loại tội phạm và vi phạm pháp lu t khác. Bị cáo nh n thức được hành vi "Mua bán, Tàng trữ trái phép chất ma tuý" là trái pháp lu t nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử thấy cần phải có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng

nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, cũng như

tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ lu t hình sự các bị cáo được hưởng. Ngoài ra gia đình bị cáo H có ông ngoại được tặng thưởng huân chương hạng nhì nên bị cáo H được hưởng tình tiết giảm nhẹ khoản 2 Điều 51 Bộ lu t sình sự.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy do tính chất nghiêm trọng của

hành vi, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt t có thời hạn để cách ly các bị cáo với xã hội trong một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp lu t.

Về hình phạt bổ sung b ng tiền. Bị cáo Tr bán ma túy mục đích kiếm L cần áp

dụng khoản 5 điều 251 Bộ lu t hình sự phạt bị cáo một khoản tiền nhất định để nộp ngân sách nhà nước. Đối với bị cáo H mua ma túy mục đích sử dụng cho bản thân không có mục đích L nhu n nên không áp dụng hình phạt bổ sung b ng tiền đối với bị cáo.

Về v t chứng: Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đưa ra về xử

lý v t chứng là ph hợp, có cơ sở chấp nh n. Áp dụng các điểm b, a, c, khoản 1, Điều 47 Bộ lu t hình sự: điểm a, b, khoản 2, điểm b, khoản 3, Điều 106 Bộ lu t Tố tụng hình sự.

+ 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone, màu trắng, số IMEI: 352993094398617,

lắp sim số 0962.686.343; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám, màn hình có vết nứt v có số IMEI: 354392062914216, lắp sim điện thoại số 0944.495.362; cả hai chiếc điện thoại này Tr và H đã sử dụng liên lạc trao đổi với nhau để mua bán ma túy nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI RAIDER, biển kiểm soát 98 - H1

360.13 Tr d ng để mua ma túy tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Truy thu số tiền 500.000đ tiền Tr bán ma túy cho H

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định (đã được niêm

phong theo quy định); 01 xi lanh, 01 một vỏ ống thủy tinh.

Trả lại bị cáo H 01 ví da, 01 căn cước công dân số 024095017700

Đối với 02 vỏ đoạn ống nhựa và mảnh giấy bạc H d ng để sử dụng ma túy,

H khai đã vứt tại mương nước gần ngôi nhà hoang, 01 b t lửa Tr D ng để hàn đầu các ống nhựa Tr để đâu không nhớ. Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thấy.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Tr, Tr không biết tên, tuổi, địa chỉ

cụ thể, Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại khu vực xã Tân Hòa, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và xã Tiến Thắng, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang nhưng không xác định đối tượng bán ma túy cho Tr là ai, ở đâu nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Cơ quan điều tra đã đấu tranh với Đoàn Văn V nhưng V khai sáng

05/10/2023, V đi làm, khi về nhà V ở trong phòng nên không biết và cũng không được Tr nói cho biết việc Tr cất giấu và bán ma túy cho H nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với Đoàn Văn V là đúng quy định.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Tr và H ngày 05/10/2023,

Cơ quan điều tra chuyển tài liệu liên quan đến Công an huyện Tân Yên xử lý theo thẩm quyền.

Tách chiếc xe mô tô biên 12F4-2816 và đăng ký xe mô tô số A0048423 do

Công an tỉnh Lạng S cấp, mang tên Triệu Văn Ph, nơi thường trú, Bản V, H, TXLS là tài sản của ông Trần Minh L, sinh năm 1972, trú tại thôn H1, xã H2, huyện Tân Yên là bố đẻ của H mua lại của một người không quen biết ở tỉnh Lạng S vào đầu năm 2023, khi mua ông L không viết giấy tờ mua bán. Ngày 05/10/2023 ông L cho H mượn chiếc xe mô tô này để làm Ph tiện đi lại. Kết quả tra cứu xác định chiếc xe tên đăng ký Triệu Văn Ph, ở Bản V, H, thị xã Lạng S, tuy nhiên anh Ph khai đã bán chiếc xe mô tô cho người không quen biết ở tỉnh Bắc Giang từ năm 2020. Kết quả tra cứu xác định chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy v t chứng. Ngày 05/10/2023 khi điều khiển xe mô tô đi mua ma túy thì H không đội mũ bảo hiểm nên Cơ quan điều tra chuyển tài liệu liên quan và chiếc xe k m theo đăng ký xe mô tô đến Đội cảnh sát giao thông tr t tự Công an huyện Tân Yên để xử lý hành chính theo quy định của pháp lu t.

01 ví da, 01 căn cước công dân số 024095017700 mang tên Trần Minh

Trung H là ví và giấy tờ t y thân của H không liên quan đến hành vi phạm tội trả lại bị cáo H.

01 xi lanh, 01 một vỏ ống thủy tinh là công cụ H để sử dụng trái phép chất

ma túy tịch thu tiêu hủy.

Về tiền án phí: Căn cứ Điều 135 của Bộ lu t tố tụng hình sự; điểm a khoản

1 Điều 23, điểm đ, khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Bị cáo Tr, phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ

thẩm.

Bị caó H thuộc đối tượng hộ ngh o được miễn tiền án phí HSST

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án

theo lu t định;

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm i khoản 2, khoản 5, Điều 251; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38

Bộ lu t hình sự; Xử phạt: Nguyễn Văn Tr 08(tám) năm 04(bốn) tháng t về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn t tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 05/10/2023.

Phạt bổ sung b ng tiền đối với bị cáo Tr 5.000.000đồng nộp ngân sách nhà

nước.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38

Bộ lu t hình sự; Xử phạt: Trần Minh Trung H 01 (một) năm 02 (hai) tháng t về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn t tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 05/10/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung b ng tiền đối với bị cáo H.

2. Về v t chứng: Căn cứ các điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ lu t hình sự và

điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ký hiệu “QT” được niêm phong lại b ng dấu

của phòng kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Bắc Giang có chữ ký của giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu giám định, bên trong có

01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa b ng nhựa, viền màu đỏ bên

trong đựng mẫu chất cục bột màu trắng là ma túy loại Heroine còn lại sau giám định 6,953gam (ban đầu được đựng trong 01 gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc, được đựng trong 01 gói nilon màu trắng được hàn kín).

Mẫu chất cục bột là ma túy loại Heroine còn lại sau giám định 1,622gam (ban

đầu được đựng trong 44 đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu)

Mẫu viên nén màu hồng đỏ được đựng trong một túi nilon màu trắng, một đầu

có rãnh khóa b ng nhựa, viền màu đỏ đều là ma túy khối lượng 0,081gam loại Methamphetamine được hoàn lại sau giám định.

- Chất cục bột màu trắng được đựng trong 04 đoạn ống nhựa màu trắng, được

hàn kín hai đầu đều là ma túy, loại Heroine, được hoàn lại sau giám định 0,130gam. Được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu "QT H" có dấu của phòng kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, có chữ ký cửa giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu.

01 xi lanh b ng nhựa loại 3ml/cc, đã qua sử dụng . 01 vỏ ống thủy tinh (ống

đựng nước cất) đã bị v một đầu.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu

trắng có số IMEI: 352993094398617, lắp sim số 0962.686.343 được đựng trong một phong bì có ký hiệu "ĐT của Tr" được niêm phong b ng dấu của Công an xã T và chữ ký c ng tên của những người tham gia.

01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI RAIDER, biển kiểm soát 98H1 - 360.13

01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu xám, điện thoại cũ, đã qua sử dụng , màn

hình có vết nứt v , có số IMEI 354392062914216 , lắp sim điện thoại số 0944.495.362. được niêm phong trong một phong bì có ký hiệu "QT H".

Truy thu của Tr số tiền 500.000đồng

- Trả lại bị cáo H 01 ví da màu nâu, 01 căn cước công dân số 024095017700.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135 của Bộ lu t tố tụng hình sự; điểm a khoản 1

Điều 23, điểm đ, khoản 1, điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Buộc bị cáo Tr phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí

hình sự sơ thẩm.

Miền tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo H.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Lu t Thi hành án

thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiêụ thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Lu t Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 BLTTHS:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án

trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nh n được (hoặc niêm yết) bản án.

Cỡ chữ