vanban.org

Bản án 81/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 27/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:

Xử phạt bị cáo Cà Văn Q 04 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cà Văn Quảng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2023/HS - ST
Ngày 27 - 4 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Chí Thành.

2. Bà Phạm Thị Thủy.

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Điệp - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Ông Sộng Nỏ Ly - Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 82/2023/HSST ngày 27 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2023/QĐXXST - HS ngày 14 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Cà Văn Q - Sinh năm 1994; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản P, xã K, huyện M, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Cà Văn Y và bà Cà Thị M; Bị cáo có vợ là Lò Thị S và có 02 con (con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2021); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 15/12/2022 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Cà Văn Y, sinh năm 1971. Trú tại: Bản P, xã K, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 01 giờ 05 phút ngày 15/12/2022, Tổ công tác Công an thị trấn M1, M làm nhiệm vụ tại khu vực tổ dân phố 1, thị trấn M1 phát hiện Cà Văn Q đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ tại lòng bàn tay trái của Q có 01 gói nilon màu hồng, bên trong có chứa 23 viên nén màu hồng và cục chất bột màu trắng (Q khai nhận là Hồng phiến và Heroine). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra còn tạm giữ của Q 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX BKS 26B2- 060.48

Ngày 15/12/2022 tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã đã thành lập hội đồng bóc, mở niêm phong, cân tịnh khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định, kết quả:

- 23 viên nén màu hồng thu giữ của Q có tổng khối lượng là 2,18gam. Đã trích 02 viên có khối lượng 0,19 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu Q1, vật chứng còn lại 21 viên có khối lượng 1,99 gam làm vật chứng lưu kho ký hiệu L1;

- Cục chất bột màu trắng thu giữ của Q có tổng khối lượng là 1,21 gam. Trích 0,11 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu Q2, vật chứng còn lại 1,10 gam ký hiệu L2.

Tại bản Kết luận giám định số 28/KL-KTHS ngày 19/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, kết luận:

“- Mẫu gửi giám định ký hiệu Q1 là ma túy; loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,19gam.

- Mẫu gửi giám định ký hiệu Q2 là ma túy; loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,11gam.

- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 2,18gam; loại Methamphetamine và 1,21 gam; loại Heroine”.

Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 14/12/2022, Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 26B2- 060.48 đi từ nhà đến bản C, xã H, huyện M với mục đích tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến bản C thì Q gặp một người đàn ông dân tộc Mông không rõ tên, tuổi, địa chỉ đang đi bộ ngược chiều, Q hỏi mua được của người đàn ông dân tộc Mông này 23 viên Hồng phiến và 01 gói Heroine với giá 350.000đ. Sau khi mua được ma túy, Q cầm trong lòng bàn tay trái điều khiển xe mô tô đi về đến khu vực tổ dân phố 1, thị trấn M1, huyện Sông Mã thì bị tổ công tác Công an thị trấn M1 làm nhiệm vụ đã phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng nêu trên.

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 34/CT-VKSSM ngày 27 tháng 3 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Cà Văn Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Cà Văn Q từ 03 năm 06 tháng – 04 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung. Xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi trừ đi mẫu gửi giám định, 01 mảnh nilon cùng 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; chấp nhận việc CQCSĐT đã trả lại xe mô tô cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày tại phiên tòa: Chiếc xe mô tô BKS 26B2- 060.48 là tài sản hợp pháp của ông đã cho bị cáo Q là con đẻ mượn sử dụng, khi bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy ông không biết, hiện nay chiếc xe đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã trả lại cho ông, ông nhất trí và không có ý kiến gì.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nhất trí với ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không có ý kiến tranh luận gì và khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 01 giờ 10 phút, ngày 15/12/2022 đối với Cà Văn Q cùng vật chứng bị thu giữ là 01 gói nilon bên trong có chứa 23 viên nén màu hồng và cục chất bột màu trắng; Kết luận giám định số 28/KL-KTHS ngày 19/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận là ma túy: “… Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 2,18 gam loại Methamphetamine và 1,21 gam loại Heroine”.

- Lời khai bị cáo về việc đã thường xuyên sử dụng ma tuý nên ngày 15/12/2022 đã mua được một gói ma túy của một người không quen biết với số tiền là 350.000đ để tàng trữ nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

- Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có thay đổi, bổ sung gì về lời khai làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 15/12/2022 khi bị cáo đang có hành vi tàng trữ 2,18 gam loại Methamphetamine và 1,21 gam loại Heroine (tổng khối lượng hai chất là 3,39 gam) mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt từ “01 năm đến 05 năm tù”.

Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.

Vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và khối lượng ma túy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội để đưa ra một mức án phù hợp nhất, nhằm giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và cũng đảm bảo biện pháp răn đe, phòng ngừa chung, góp phần thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

Số ma túy thu giữ còn lại sau khi trừ đi mẫu gửi giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành và 01 mảnh nilon và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là những vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về các vấn đề khác có liên quan trong vụ án:

Đối với chiếc xe mô tô BKS 26B2- 060.48 xác định được là tài sản hợp pháp của ông Cà Văn Y, khi bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy ông không biết, hiện nay chiếc xe đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã trả lại cho ông Y và ông Y cũng không có ý kiến gì khác, do vậy việc trả lại xe mô tô là có căn cứ chấp nhận.

Về người đàn ông bị cáo khai là người đã bán ma túy bị cáo khai không biết rõ tên, địa chỉ cụ thể nên CQCSĐT không mở rộng điều tra vụ án là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định chung.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Cà Văn Q phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Cà Văn Q 04 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 1,99 gam Methamphetamine, 1,10 gam Heroine được đựng trong các túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu và 01 mảnh nilon màu hồng. Tất cả được đựng trong 01 phong bì đã dán kín, niêm phong đúng quy định, mặt sau phong bì trên giấy niêm phong có mã số 080104.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 31/QĐ – VKS ngày 27/3/2023 của VKSND huyện Sông Mã và theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/3/2023 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; Các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/4/2023).

Cỡ chữ