- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Văn T phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 05/9/2023) nhưng được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/6/2020 đến ngày 29/9/2020 tại bản án số 135/2020/HS-ST ngày 29/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2023/HS-ST Ngày 30-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Vi Thị Khuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Dềnh Bá Lồng;
Ông Trần Thanh Bình.
- Thư ký phiên toà: Ông Quang Thái Tài-Thư ký Toà án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Anh Tuấn-Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2023 đối với:
Bị cáo: Vi Văn T; tên gọi khác: Không; sinh ngày 22/8/2000, tại xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản X, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 11/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn A và bà Vi Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Có 01 tiền án: Ngày 29/9/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm về tội “Cố ý gây thương tích”. Hiện đang trong thời gian thử thách. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/9/2023 đến nay, hiện đang tạm giam; Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Công Thiết, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An; Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Chỉnh Văn N; sinh năm 2004; trú tại: Bản X, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An.Vắng mặt.
2. Lô Văn H; sinh năm 2001; trú tại: Bản X, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An.Vắng mặt.
3. Vi Thị N; sinh năm 1977; trú tại: Bản X, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người chứng kiến: Xeo Đức H; sinh năm 1995; trú tại: K5, thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Quá trình sử dụng mạng Internet, Vi Văn T biết được ứng dụng di động SUN PUZURU (SUN WIN) có thể đánh bạc bằng hình thức mua, bán số lô, số đề. Mua bán số lô, số đề được ứng dụng này quy định cụ thể như sau:
“Đánh lô” là người chơi được chọn một con số từ 00 đến 99 để đánh, kết quả sẽ lấy 02 số cuối trong bảng kết quả xổ số kiến thiết miền bắc được công bố vào lúc 18 giờ 15 phút hàng ngày. Nếu “số lô” trùng với 02 số cuối của một trong 27 giải được công bố thì được gọi là “trúng lô”, mỗi số lô được đánh theo điểm gọi là “điểm lô”, một điểm lô được ứng dụng SUN PUZURU bán với số tiền 27.000 đồng (Hai mươi bảy nghìn), không giới hạn số điểm lô đánh. Người chơi phải chọn “số lô” và mua số “điểm lô” trên ứng dụng SUN PUZURU trước 18 giờ hàng ngày. Mỗi “điểm lô” nếu trúng thì người chơi thắng 99.000 đồng (Chín mươi chín nghìn), ứng dụng SUN PUZURU sẽ trả số tiền mà người đánh trúng số lô. Nếu “số lô” không không trùng với hai số cuối của giải nào trong số 27 giải được công bố thì người chơi sẽ thua toàn bộ số tiền đã mua “số lô”.
“Đánh đề” là chọn một con số từ 00 đến 99 để đánh gọi là “số đề”, kết quả được lấy theo 02 số cuối của giải đặc biệt trong bảng kết quả xổ số kiến thiết miền bắc được công bố vào lúc 18 giờ 15 phút hàng ngày. Nếu “số đề” người chơi đánh trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt trong bảng kết quả hàng ngày thì gọi là “trúng đề”. Mỗi “số đề” được ứng dụng SUN PUZURU bán được tính theo đơn vị 1000 đồng (Một nghìn), không giới hạn số tiền đánh. Người chơi phải chọn “số đề” và mua số tiền tương ứng trên ứng dụng SUN PUZURU trước 18 giờ hàng ngày. Trường hợp “trúng đề” thì người chơi sẽ được hưởng số tiền theo tỷ lệ 1000 đồng (Một nghìn) được 95.000 đồng (Chín mươi lăm), nếu “số đề” không trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt thì người chơi sẽ thua toàn bộ số tiền đã bỏ ra để mua “số đề”.
Sau khi tìm hiểu cách thức “đánh bạc” thông qua việc mua “số lô”, “số đề” của ứng dụng SUN PUZURU, Vi Văn T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 màu vàng để tải và cài đặt ứng dụng này để nhằm mục đích “đánh bạc”.
Ngày 05/9/2023, Chỉnh Văn N sử dụng tài khoản Messenger “Nguyên Con” nhắn tin và gọi điện thoại cho Vi Văn T có tài khoản Messenger “Tú Bồ” để thoả thuận việc đánh bạc bằng việc mua số lô, số đề. Khoảng 17 giờ cùng ngày, N nhắn tin cho T nội dung “A 41 30đ thôi a”, “14 100đ” để mua số lô “41” với 30 điểm và số lô “14” với 100 điểm, sau đó T nhắn tin lại cho N với nội dung: 14 100đ, 41 30đ để xác nhận và dựa vào giá bán số lô, số đề của ứng dụng SUN PUZURU T báo với N tổng số tiền mua số lô là 3.510.000 đồng (Ba triệu, năm trăm mười nghìn), Chỉnh Văn N đã chuyển số tiền trên vào tài khoản số 5080122082000 Ngân hàng Quân đội MB Bank của Vi Văn T.
Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Lô Văn H đến nhà của Vi Văn T để đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề. H mua của T số lô “72” với 50 điểm và số đề “61” với số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi). Vi Văn T dựa vào giá bán số lô, số đề trên ứng dụng SUN PUZURU để báo tổng số tiền mà Lô Văn H phải trả cho T là 1.500.000 đồng (Một triệu, năm trăm nghìn). Khoảng 17 giờ 36 phút cùng ngày Lô Văn H chuyển số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu, năm trăm nghìn) vào số tài khoản 5080122082000 của Vi Văn T được mở tại Ngân hàng Quân đội MB Bank. Sau khi nhận được tiền, Vi Văn T sủ dụng điện thoại nhắn tin vào tài khoản messenger “Hiếu Ỏn” với nội dung: “72 50đ”, “61 150k” để xác nhận việc đánh bạc với Lô Văn H.
Sau khi nhận được tiền từ Chỉnh Văn N và Lô Văn H thì Vi Văn T đã chuyển số tiền trên vào số tài khoản 1036915336 Ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam (VCB) mang tên “DINH NGOC PHU” để nạp tiền vào tài khoản của mình trên ứng dụng SUN PUZURU (SUN WIN). Số tài khoản ngân hàng VCB nói trên do ứng dụng SUN PUZURU cung cấp cho Vi Văn T để Tú chuyển khoản nạp tiền vào ứng dụng. Ngày 05/9/2023, Vi Văn T đã hai lần chuyển tiền vào số tài khoản trên lần lượt 3.510.000 đồng (Ba triệu, năm trăm mười nghìn) vào lúc 17 giờ 21 phút và 1.500.000 đồng (Một triệu, năm trăm nghìn) vào lúc 17 giờ 37 phút để nạp tiền vào ứng dụng SUN PUZURU. Sau khi nạp tiền vào ứng dụng thành công, Vi Văn T đã mua số lô, số đề gồm: số lô “41” với 30 điểm; số lô “14” với 100 điểm; số lô “72” với 50 điểm; số đề “61” với sô tiền 150.000 đồng.
Đến khoảng 17 giờ 45 phút ngày 05/9/2023, sau khi tiếp nhận tin báo có các đối tượng đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề, Công an huyện Kỳ Sơn đã triệu tập Chỉnh Văn N, Lô Văn H để điều tra, sau khi hai đối tượng trên thừa nhận hành vi của mình, Công an huyện Kỳ Sơn đã giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Vi Văn T.
Quá trình điều tra, Vi Văn T đã thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Về vật chứng của vụ án:
01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 PLUS, màu trắng thu giữ của Lô Văn H, quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại trên Lô Văn H đã mượn của bố là ông Lô Văn O nên ngày 11/9/2023 Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Lô Văn O.
01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu hồng thu giữ của Chỉnh Văn N, quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại trên Chỉnh Văn N mượn của bố là ông Chỉnh Văn Ng nên ngày 11/9/2023 Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Chỉnh Văn Ng.
01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 màu vàng thu giữ của Vi Văn T đã được Cơ quan điều tra Công an huyện Kỳ Sơn chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn bảo quản theo quy định.
Cáo trạng số 80/CT-VKS-KS ngày 12/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An quyết định truy tố bị cáo Vi Văn T về tội “Đánh bạc”, theo điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vi Văn T phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Vi Văn T mức án từ 03 (Ba) năm đến 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù; tổng hợp hình phạt với 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù tại bản án số 135/2020/HS-ST ngày 29/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án từ 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng đến 06 (Sáu) năm tù; về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo; về xử lý vật chứng: Truy thu của bị cáo Vi Văn T số tiền 5.010.000 đồng (Năm triệu, không trăm mười nghìn) là số tiền bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc để nộp ngân sách Nhà nước; đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 màu vàng thu giữ của Vi Văn T, quá trình điều tra xác định được chiếc điện thoại thuộc sở hữu của chị Vi Thị N (là mẹ của bị cáo Vi Văn T), đề nghị trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Vi Thị N; về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là Chỉnh Văn N, Lô Văn H, quá trình điều tra xác định các đối tượng tham gia đánh bạc cùng với Vi Văn T nhưng do tổng số tiền sử dụng đánh bạc chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự, nên Cơ quan điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Chỉnh Văn N, Lô Văn H theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Vi Thị N trình bày: Chị đã mua 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 màu vàng, do con trai là Vi Văn T không có điện thoại để liên lạc nên chị đã cho Vi Văn T mượn. Thời điểm bị cáo Vi Văn T sử dụng điện thoại để đánh bạc chị không biết. Nay chị Vi Thị N có nguyện vọng được xin lại chiếc điện thoại để làm phương tiện liên lạc.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Về tội danh và điều luật áp dụng đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn, trình độ dân trí thấp, nhận thức pháp luật hạn chế, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất mà đại diện Viện Kiểm Sát đã đề nghị, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Vi Văn T đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có tranh luận gì. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên; Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định pháp luật.
Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Chỉnh Văn N, Lô Văn H vắng mặt, người chứng kiến vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ. Do đó, sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo Vi Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người liên quan, người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 05/9/2023, Vi Văn T đã có hành vi sử dụng mạng Internet, phượng tiện điện tử để đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề thông qua ứng dụng SUN PUZURU (SUN WIN) trên điện thoại di động. Tổng số tiền Vi Văn T dùng để đánh bạc là 5.010.000 đồng (Năm triệu, không trăm mười nghìn). Hành vi đó của bị cáo Vi Văn T đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng nếp sống văn minh, làm phức tạp thêm tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bên cạnh đó, bị cáo có 01 (Một) tiền án về tội “Cố ý gây thương tích” tại bản án số 135/2020/HS-ST ngày 29/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An đã xử phạt 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Hiện tại bị cáo đang trong thời gian thử thách, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục con đường phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật, lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm” là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, hành vi đó phải được xử lý nghiêm minh, cần tuyên phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới đủ điều kiện để vừa tiếp tục cải tạo, giáo dục riêng bị cáo vừa răn đe phòng ngừa chung.
Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Vi Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên xét thấy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo làm nghề tự do, không có thu nhập, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về các đối tượng liên quan: Trong vụ án này còn có các đối tượng Chỉnh Văn N, sinh năm 2004, trú tại: Bản X, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An; Lô Văn H, sinh năm 2001, trú tại: Bản X, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An là những người tham gia “Đánh bạc” với Vi Văn T. Tuy nhiên số tiền mà các đối tượng sử dụng đánh bạc chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự, nên hành vi “Đánh bạc” trái phép của các đối tượng Chỉnh Văn N, Lô Văn H đã vi phạm khoản 1 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ“Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình”. Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Chỉnh Văn N, Lô Văn H là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 màu vàng thu giữ của Vi Văn T, quá trình điều tra xác định được chiếc điện thoại thuộc sở hữu của chị Vi Thị N (là mẹ của bị cáo Vi Văn T), chị Vi Thị N không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của Vi Văn T nên cần trả lại chiếc điện thoại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Vi Thị N.
Đối với số tiền 5.010.000 đồng (Năm triệu, không trăm mười nghìn) mà Vi Văn T đã nhận từ Chỉnh Văn N, Lô Văn H để sử dụng vào việc đánh bạc đây là công cụ phạm tội nên cần truy thu để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vi Văn T 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt với 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù tại bản án số 135/2020/HS-ST ngày 29/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, buộc bị cáo Vi Văn T phải chấp hành một hình phạt chung cho cả hai bản án là 06 (Sáu) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 05/9/2023) nhưng được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/6/2020 đến ngày 29/9/2020 tại bản án số 135/2020/HS-ST ngày 29/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Truy thu của bị cáo Vi Văn T số tiền số tiền 5.010.000 đồng (Năm triệu, không trăm mười nghìn) là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội để nộp ngân sách Nhà nước.
Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 màu vàng, số IMEI: 352852111315667, điện thoại cũ đã qua sử dụng cho chị Vi Thị N, sinh năm 1977, trú tại: Bản X, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An (là mẹ của bị cáo Vi Văn T).
Vật chứng đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 13/11/2023 giữa Công an huyện Kỳ Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Vi Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30/11/2023). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án đối với phần có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án đối với phần có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Kỳ Sơn; - Công an huyện Kỳ Sơn (Cơ quan điều tra, Cơ quan THA hình sự); - Trại tạm giam, Công an tỉnh Nghệ An; - Chi cục THA dân sự huyện Kỳ Sơn; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án, hồ sơ THAHS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vi Thị Khuyên |