- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hồng V phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 26…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Hồng V.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2023/HS-PT Ngày: 26-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Thủy
Các thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Thư
Ông Phạm Tiến Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Chuyên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thẩm thụ lý số 68/2023/TLPT-HS ngày 21 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Hồng V.
Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2023/HS-ST ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Hồng V, sinh năm 1994 tại Bình Phước; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: Ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1970 và bà Hồ Thị C, sinh năm 1972; có vợ là Trương Thị Hải Y (đã ly hôn); bị cáo có 01 người con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 05/07/2022, Nguyễn Hồng V điều khiển xe ôtô con loại 05 chỗ nhãn hiệu KIA, loại Cerato, màu xanh, biển số: 51G-029.69 từ quán H2 thuộc ấp E, xã L, huyện L đi giao đồ ăn cho chị Trần Trúc L ở quán C1, thuộc ấp A, xã L, huyện L. Khi V điều khiển xe ô tô đến phần đường đối diện quán C1, V cho xe di chuyển sát vào làn đường dành cho xe gắn máy và xe thô sơ để quan sát gương chiếu hậu bên trái chuẩn bị cho xe chuyển hướng quay đầu sang quán C1. Khi quan sát gương chiếu hậu thấy phía sau không có phương tiện cùng chiều lưu thông, Vỹ bắt đầu bật đèn xi nhan bên trái, từ từ cho xe đánh lái sang trái để chuyển hướng quay đầu xe. Khi phần đầu xe ôtô vừa qua làn đường dành cho xe ô tô con, phần thân xe chắn hết làn đường hỗn hợp dành cho xe mô tô và xe ô tô thì bất ngờ anh Trần Văn H1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SUZUKY, loại Satria, màu đỏ đen, không biển kiểm soát lưu thông cùng chiều tông trực diện vào vị trí cánh cửa trước phía bên trái của xe ô tô làm anh H1 văng lên nắp capo xe ôtô đập đầu vào kính trước capo xe rồi văng sang đường phía ngược chiều và tử vong tại chỗ. Sau va chạm, V đạp phanh cho xe dừng lại, thấy anh H1 nằm bất động, V điều khiển xe bỏ chạy khỏi hiện trường đi về nhà ở ấp H, xã L, huyện L cất giấu xe. Đến khoảng 09 giờ sáng cùng ngày, Nguyễn Hồng V đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.
Căn cứ biên bản khám nghiệm hiện trường lập ngày 30/3/2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L thì hiện trường để lại những dấu vết như sau:
1. Hiện trạng của đoạn đường xảy ra tai nạn: Là đoạn đường Quốc lộ 13 mặt đường trải nhựa bằng phẳng có chiều rộng mặt đường là 19 mét, trên mặt đường có vạch kẻ đường liền nét màu vàng chia đường thành hai chiều đường riêng biệt, trên mỗi chiều đường có vạch sơn trắng chia đường thành ba làn xe chạy, đoạn đường không có biển báo hiệu, có đèn đường chiếu sáng vào ban đêm.
2. Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết: Số (01) nạn nhân; (2) xe mô tô không biển số; (3) Vùng mảnh vỡ; (4) vết xạt có kích thước (0,6x0,4) mét; (5) vết xạt và vết cày kích thước (0,15x0,1) mét; (6) chiếc dép có kích thước (0,26x0,1) mét; (7) chiếc dép có kích thước (0,26x0,1) mét; (8) trụ điện số 160; (9) vùng vết máu kích thước (1,35x0,5) mét
3. Xác định điểm mốc và các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn: Chọn mép lề đường bên phải hướng thị trấn L đi xã L làm mép đường chuẩn. Chọn trụ điện số 160 bên lề phải làm mốc chuẩn.
4. Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:
- Nạn nhân (01) sau tai nạn nằm trên mặt đường Q, đầu quay hướng đi xã L, chân quay về hướng thị trấn L, đầu nạn nhân cách mép đường chuẩn là 25 mét. Xe môtô không biển số (2) sau tai nạn ngả lật sang trái nằm trên mặt đường quốc lộ 13, đầu quay về hướng xã L, đuôi quay về hướng thị trấn L, trục bánh trước cách mép lề đường chuẩn là 7,45 mét, đồng thời cách đầu nạn nhân hướng đi thị trấn L là 6,2 mét, trục gác chân trước bên trái cách mép lề đường là 7,7 mét, trục bánh sau cách mép đường chuẩn là 7,5 mét. Vùng mảnh vỡ (3) sau tai nạn nằm trên mặt đường quốc lộ 13, điểm đầu dấu vết cách mép đường chuẩn là 6,8 mét, điểm cuối cách mép đường chuẩn là 13,8 mét, đồng thời cách đầu nạn nhân về hướng xã L là 3,5 mét. Vết xạt (4) sau tai nạn nằm trên mặt đường quốc lộ 13 có chiều hướng thị trấn L đi hướng xã L, điểm dấu vết xạt cách mép đường chuẩn là 6,6 mét, đồng thời cách trục bánh trước xe mô tô (2) hướng xã L là 1,3 mét, điểm cuối vết xạt cách mép đường chuẩn là 6,6 mét. Vết xạt và vết cày (5) sau tai nạn nằm trên mặt đường quốc lộ 13, có chiều hướng thị trấn L đi xã L, điểm đầu vết cách mép đường chuẩn là 6,55 mét, điểm cuối vết cách mép đường chuẩn là 6,55 mét, đồng thời cách trục giữa xe mô tô (2) hướng thị trấn L là 1,45 mét. Chiếc dép (6) sau tai nạn nằm trên mặt đường quốc lộ 13, tâm chiếc dép cách mép đường chuẩn là 10,8 mét, đồng thời cách điểm đầu dấu vết xạt và vết cày (5) hướng đi thị trấn L là 8,35 mét. Chiếc dép (7) sau tai nạn nằm trên mặt đường quốc lộ 13, tâm chiếc dép cách mép đường chuẩn là 1,5 mét, đồng thời cách tâm chiếc dép (6) hướng đi thị trấn L là 9,35 mét. Trụ điện số 160 (8) cách trục bánh sau xe mô tô (2) hướng đi thị trấn L là 8,8 mét. Vùng vết máu (9) sau tai nạn nằm trên mặt đường quốc lộ 13, có chiều hướng thị trấn L đi xã L, điểm đầu vết máu cách mép đường chuẩn là 11,5 mét, điểm cuối cách mép đường chuẩn là 12,25 mét, nằm ngay đầu nạn nhân.
Sau khi Nguyễn Hồng V ra đầu thú, Cơ quan Cảnh sát điều tra đưa Nguyễn Hồng V và phương tiện gây tai nạn đến hiện trường xác định vị trí của xe ôtô khi xảy ra tai nạn. Kết quả khám nghiệm xác định vị trí xe ôtô như sau: Đặt xe ôtô nhãn hiệu KIA, loại Cerato biển số 51G-029.69 là vị trí số (10), các vị trí dấu vết đã khám nghiệm không thay đổi. Xe ôtô đỗ trên mặt đường quốc lộ 13, đầu xe quay hướng chếch sang đường ngược chiều, đuôi xe chếch vào hướng mép đường chuẩn. Trục bánh trước bên phải cách mép đường chuẩn là 5,5 mét, trục bánh sau bên phải cách mép đường chuẩn là 3,35 mét, trục bánh sau bên trái cách mép đường chuẩn là 4,5 mét, đồng thời cách trục bánh sau xe môtô (2) hướng đi xã L là 3,35 mét, điểm va chạm tại cánh cửa trước bên trái xe ôtô cách trục bánh trước xe môtô (2) hướng xã L là 2,3 mét, vị trí kính chắn gió xe ôtô bị bể cách đầu nạn nhân là 07 mét. Trục bánh sau xe ôtô bên trái cách trụ điện 160 (8) là 10,5 mét. Điểm cuối vết xạt (4) nằm ngay trục bánh trước bên trái của xe ôtô, cách mép đường chuẩn là 6,6 mét.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 218/KL(PY)-KTHS ngày 28/7/2022 của Phòng K Công an tỉnh Bình Phước kết luận: Nạn nhân Trần Văn H1, sinh năm: 2000 bị đa chấn thương, gãy xương, chấn thương ngực kín gây giập phổi, tim dẫn đến tử vong.
Tại bản kết luận giám định số 83/KL(E) -KTHS ngày 21/7/2022 của Phòng K Công an tỉnh Bình Phước kết luận: Trong máu nạn nhân Trần Văn H1 được thu giữ tìm thấy thành phần cồn Ethanol, nồng độ Ethanol là 126,497 mg/100 ml máu.
Căn cứ biên bản kiểm tra nồng độ cồn lập lúc 08 giờ 50 phút ngày 05/7/2022 của Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện L thì Nguyễn Hồng V có kết quả kiểm tra qua máy đo nồng độ cồn là 0,000 miligam/lít khí thở.
Tại Kết luận giám định số 17/KL(CH)-KTHS ngày 16/8/2022 của Phòng K Công an tỉnh Bình Phước kết luận:
- Cơ chế hình thành dấu vết giữa xe ô tô biển số: 51G-029.69 với xe mô tô không biển số.
Tại vị trí mặt ngoài cửa trước bên trái xe ô tô biển số: 51G-029.69, cách trục bánh trước bên trái 103cm, cách nền 36cm có dấu vết trượt xước, kích thước (7,7x2,5)cm, chiều hướng từ sau về trước từ trên xuống dưới với dấu vết trượt xước tại vị trí mặt ngoài bên phải vành bánh trước xe mô tô không biển số, cách trục bánh trước 24cm, cách van bơm hơi 14,5cm, kích thước (83x0,5)cm, chiều hướng ngược chiều lăn tới của bánh xe là phù hợp.
Tại vị trí mặt ngoài cửa trước bên trái xe ô tô biển số: 51G-029.69, cách trục bánh trước bên trái 105cm, cách nền 53cm có dấu vết trượt xước nằm trên nền biến dạng kim loại, kích thước (93x66)cm, chiều hướng từ sau về trước với dấu vết vỡ, biến dạng hoàn toàn vùng đầu xe mô tô không biển số là phù hợp.
- Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô biển số 51G-029.69 với xe mô tô không biển số: Tại vị trí mặt ngoài cửa trước bên trái xe ô tô biển số 51G-029.69, cách trục bánh trước bên trái 103cm, cách nền 36cm có dấu vết trượt xước với vị trí mặt ngoài lốp bánh trước tương ứng dấu vết trượt xước mặt ngoài bên phải vành bánh trước xe mô tô không biển số là phù hợp.
Căn cứ kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐDGTSTTHS ngày 19/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện L kết luận: Tổng giá trị thiệt hại của xe mô tô không biển số, nhãn hiệu SUZUKY; loại Satria là: 5.400.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại của xe ô tô biển số: 51C-029.69 là: 28.250.000 đồng.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) Xe mô tô nhãn hiệu SUZUKY Satria không biển số màu đỏ đen, 01 (một) Xe ôtô nhãn hiệu KIA, loại CERATO, màu xanh biển số: 51G-029.69, 01 (một) Giấy phép lái xe hạng C số 790193105542 tên Nguyễn Hồng V, 02 chiếc dép, mảnh vỡ xe ô tô, 01 giấy đăng kiểm.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2023/HS-ST ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước quyết định:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng V 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Ngày 09/5/2023 bị cáo Nguyễn Hồng V kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo vắng mặt mà không có lý do chính đáng.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 290, Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử nhưng không ra bản án, quyết định không có lợi cho bị cáo theo quy định của pháp luật. Xét kháng cáo của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2023/HS-ST ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hồng V được thực hiện trong thời hạn luật định, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại các điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan và sự vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 290, Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.
Xem xét toàn bộ hồ sơ vụ án nhận thấy:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận điều tra, kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh Bình Phước cùng các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng có cơ sở kết luận:
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 05/7/2022, bị cáo Nguyễn Hồng V điều khiển xe ô tô lưu thông đến phần đường đối diện quán C1 tại ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước, khi quan sát qua gương chiếu hậu không thấy ai thì bị cáo đánh lái sang trái để chuyển hướng quay đầu xe. Lúc này anh Trần Văn H1 điều khiển xe mô tô lưu thông cùng chiều tông trực diện vào vị trí cánh cửa trước phía bên trái của xe ô tô làm anh H1 văng lên nắp capo xe ôtô đập đầu vào kính trước capo xe rồi văng sang đường phía ngược chiều và tử vong tại chỗ. Sau khi phát hiện anh H1 chết thì bị cáo bỏ chạy khỏi hiện trường mà không đưa bị hại đi cấp cứu. Hành vi của bị cáo V thuộc trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Hồng V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Hồng V, thấy rằng:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại; gia đình người bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo nên mức án xử phạt bị cáo 03 (ba) năm tù là phù hợp, không nặng so với hành vi và hậu quả mà bị cáo gây ra. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác so với cấp sơ thẩm. Vì vậy, kháng cáo của bị cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận, cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Hồng V phải chịu theo quy định pháp luật.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Hồng V.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2023/HS-ST ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước về phần hình phạt đối với bị cáo.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng V 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Hồng V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2023/HS-ST ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Phước (1); - PV 06 Công an tỉnh Bình Phước (1); - TAND, VKSND huyện L (2); - Chi cục THADS huyện L (1); - CQĐT Công an huyện L (1); - Cơ quan THAHS huyện L (1); - Công an huyện L (1); - Sở tư pháp tỉnh Bình Phước (1); - Trại giam Công an tỉnh (1); - Bị cáo (1); - Lưu: HSVA, Tổ HCTP, Tòa HS. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Bích Thủy |