vanban.org

Bản án 81/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn ly hôn của chị Đậu Nguyễn Song M, xử cho chị Đậu Nguyễn Song M và anh Lê Minh Ng được ly hôn.

Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Hoàng Y, sinh ngày 27/8/2022 cho chị Đậu Nguyễn Song M có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Ng không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; Quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn chị Đậu Nguyễn Song M với bị đơn anh Lê Minh Ng ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn ly hôn của chị Đậu Nguyễn Song M, xử cho chị Đậu Nguyễn Song M và anh Lê Minh Ng được ly hôn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÂM HÀ
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2023/HNGĐ - ST.
Ngày: 25/7/2023.
V/v: “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NG VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Ngô Thị Luân.

2. Bà Trần Thị Hằng.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lịch - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 184/2023/TLST - HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đậu Nguyễn Song M. Sinh năm: 1995.

Địa chỉ: Thôn 7, xã Tân Ch, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

2. Bị đơn: Anh Lê Minh Ng. Sinh năm: 1999.

Địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

(Chị M có mặt; anh Ng có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn ly hôn và bản tự khai nguyên đơn chị Đậu Nguyễn Song M trình bày: Chị và anh Ng xây dựng gia đình với nhau vào năm 2021, trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà vào năm 2022. Cuộc sống chung của vợ chồng chị hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Ng không lo làm ăn kinh tế, thường xuyên chửi bới xúc phạm đến gia đình chị, đánh đập chị. Anh Ng không quan tâm chăm sóc cho con mặc dù cháu còn rất nhỏ. Cuộc sống vợ chồng anh chị lúc nào cũng căng thẳng, ngột ngạt. Mặc dù vợ chồng anh chị đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn tình cảm nhưng vẫn không cải thiện được. Vợ chồng anh chị hiện nay đã sống ly thân. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ng.

Về con chung: Chị xác định vợ chồng anh chị có một con chung là cháu Lê Hoàng Y, sinh ngày 27/8/2022. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con chung. Chị yêu cầu anh Ng phải cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền là 5.000.000đ/tháng.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định vợ chồng anh chị không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Bị đơn anh Lê Minh Ng trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng anh chị xây dựng gia đình với nhau vào năm 2022 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà. Quá trình chung sống thỉnh thoảng vợ chồng anh chị có cải nhau chứ không có mâu thuẫn gì lớn. Nay chị M yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh thì anh cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị M.

Về con chung: Anh xác định vợ chồng anh chị có một con chung là cháu Lê Hoàng Y, sinh ngày 27/8/2022. Khi ly hôn anh đồng ý giao con chung cho chị M chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền là 2.000.000đ/tháng.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không được với lý do anh Ng có đơn xin hòa giải vắng mặt.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Đậu Nguyễn Song M. Xử cho chị M và anh Ng được ly hôn. Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Hoàng Y, sinh ngày 27/8/2022 cho chị M có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Ng không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị M, anh Ng xác định về tài sản chung, nợ chung anh chị xác định không có. Vì vậy, không đặt ra để xem xét, giải quyết.

Về án phí: Buộc chị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tại phiên toà, bị đơn anh Lê Minh Ng vắng mặt tại phiên Tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên cần căn cứ khoản 1 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh Ng theo thủ tục chung là phù hợp.

Về quan hệ hôn nhân: Chị M và anh Ng xây dựng gia đình với nhau vào năm 2021 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà vào ngày 05/8/2022 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Tại phiên Tòa, chị M xác định mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã trầm trọng kéo dài, không còn khả năng cải thiện nên chị M vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh Ng. Chị M cho rằng cuộc sống chung của vợ chồng anh chị hòa thuận, hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Ng không lo làm ăn kinh tế, thường xuyên chửi bới xúc phạm đến gia đình chị, đánh đập chị. Anh Ng không quan tâm chăm sóc cho con mặc dù cháu còn rất nhỏ. Cuộc sống vợ chồng anh chị lúc nào cũng căng thẳng, ngột ngạt. Mặc dù vợ chồng anh chị đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn tình cảm nhưng vẫn không cải thiện được. Vợ chồng anh chị hiện nay đã sống ly thân. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ng. Còn anh Ng cho rằng quá trình chung sống thỉnh thoảng vợ chồng anh chị có cải nhau chứ không có mâu thuẫn gì lớn. Tuy nhiên, anh cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị M.

Xét thấy, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng anh Ng, chị M bất đồng với nhau về quan điểm sống, lối sống. Vợ chồng anh chị không thông cảm chia sẽ cho nhau trong cuộc sống vợ chồng. Từ đó vợ chồng anh chị thường xuyên sảy ra mâu thuẫn và sô sát. Do sảy ra mâu thuẫn nên anh chị đã tự sống ly thân. Trong thời gian sống ly thân tình cảm vợ chồng anh chị vẫn không cải thiện được. Đồng thời qua xác minh thì được biết sau khi sảy ra mâu thuẫn với nhau thì chị M đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống cho đến nay. Tuy nhiên, trong thời gian này chị M và anh Ng đều không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, nếu kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các bên do mâu thuẫn đã kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị M, xử cho chị M và anh Ng được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.

Về con chung: Chị M, anh Ng xác định vợ chồng anh chị có một con chung là cháu Lê Hoàng Y, sinh ngày 27/8/2022. Khi ly hôn anh chị thống nhất giao con chung cho chị M có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xét thấy, từ khi anh chị sống ly thân cho đến nay cháu Y do chị M chăm sóc, nuôi dưỡng, bên cạnh đó hiện nay cháu Y đang còn nhỏ cần sự chăm sóc của chị M. Để đảm bảo cho sự phát triển bình thường của cháu nên cần căn cứ khoản 1 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung là cháu Lê Hoàng Y, sinh ngày 27/8/2022 cho chị M có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Trước đây chị M yêu cầu anh Ng phải cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền là 5.000.000đ/tháng. Tuy nhiên tại phiên Tòa hôm nay chị M không yêu cầu anh Ng phải cấp dưỡng nuôi con chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị M, anh Ng xác định về tài sản chung, nợ chung vợ chồng anh chị không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.

Về án phí: Buộc chị Đậu Nguyễn Song M phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 53; khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận đơn ly hôn của chị Đậu Nguyễn Song M, xử cho chị Đậu Nguyễn Song M và anh Lê Minh Ng được ly hôn.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Hoàng Y, sinh ngày 27/8/2022 cho chị Đậu Nguyễn Song M có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Ng không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; Quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: Chị Đậu Nguyễn Son M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị M đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0013546 ngày 22 tháng 5 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, chị M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/7/2023) chị M có quyền kháng cáo. Anh Ng có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ