- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Ph tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Cố ý gây thương t ch”.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH VĨNH L ONG Bản án số: 81/2022/HS-ST Ngày: 22/11/2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Cường.
2. Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng N - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 69/2022/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2022/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Ngọc P (Tên gọi khác Phát G), sinh năm 2002 tại Vĩnh Long; nơi cư trú: Số I, khóm T, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1979 và bà Dương Thị Ngọc P1, sinh năm 1979; vợ: Trong lý lịch bị can ghi không có, tại tòa bị cáo khai vợ là Đặng Thị Ngọc Q, sinh năm 1999 (Không có đăng ký kết hôn); tiền án: 01 lần vào ngày 31/5/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long xử phạt 01 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/8/2022 đến nay, được trích xuất dẫn giải đến phiên tòa.
* Bị hại: Nguyễn Tất D, sinh năm 1997; cư trú: Số H, khóm C, phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Đặng Thị Ngọc Q, sinh năm 1999; địa chỉ: Số A, khóm A, phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (Có mặt).
* Người làm chứng: Hàng Thiện H, sinh năm 1999; cư trú: Ấp P, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 19/12/2021, Nguyễn Ngọc P cùng với người bạn tên thường gọi là H1 cùng nhóm bạn c a H1 khoảng 10 người có đem theo dao đi tìm Nguyễn Tất D (tên thư ng gọi là Đ) là người đánh H1 ở quảng trường thành phố V vào sáng ngày 19/12/2021, mục đích để nói chuyện. H1 chở P b ng xe mô tô hiệu honda SH c a H1 cùng nhóm bạn c a H1 đến nhà số F, đường N, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long thì thấy Nguyễn Tất D đang ngồi trước nhà cùng với Hàng Thiện H. Khi đến nơi thì nhóm bạn c a H1 dùng đá ném về phía D và H thì H bỏ chạy vào trong nhà. Lúc này ngoài P và H1 ra còn có khoảng 04 thanh niên là bạn c a H1 xông vào dùng dao tự chế rượt chém D, nh ng thanh niên còn lại đ ng ở ngoài. D bỏ chạy vào trong nhà đóng cửa lại nhưng không kịp thì bị nhóm người này đuổi theo chém trúng ngón tay. D chạy ra phía sau nhà lấy cây dao tự chế dùng để chặt dừa xông ra chém lại nhóm thanh niên này nhưng chém không trúng do D bị trượt chân làm rơi cây dao xuống đất thì P nhặt cây dao c a D để làm hung khí.
Lúc này, nhóm người c a P, H1 ở trước nhà ném đá, dao tự chế về phía D nên D tiếp tục lượm cây dao tự chế (D khai không nhớ đặc điểm cây dao) nhào đến chém P 01 cái nhưng P dùng cây dao nhặt được c a D (Có đặc điểm lư i dao dạng kiếm tự chế, lư i dao k ch thước 3 4 5cm , lư i b ng kim loại, m i nhọn, phần kim loại nối liền lư i dao dài 12 cm, tổng chiều dài 49 cm) cầm tay phải đỡ và chém vào vùng vai c a D. Sau đó, P tiếp tục chém D nhưng do D cuối người xuống tránh né nên trúng vào vùng đầu c a D. Thấy D bị thương nên nhóm người c a P, H1 bỏ đi.D được người nhà đưa đi cấp c u tại bệnh viện đa khoa tỉnh V.
P sau khi gây thương tích cho D xong thì bỏ cây dao lại hiện trường và bỏ trốn đến ngày 6/6/2022 P về đầu thú tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V.
Quá trình điều tra Nguyễn Ngọc P đã thừa nh n toàn bộ hành vi dùng dao gây thương tích cho Nguyễn Tất D như trên. P khai gi a P và D không có mâu thuẫn. Cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Ngọc P nh n dạng lại hung khí bị cáo P dùng gây thương tích cho bị hại D có đặc điểm là 01 lưỡi dao dạng kiếm tự chế, lưỡi dao kích thước (37 x 4.5cm), lưỡi b ng kim loại, mũi nhọn, phần kim loại nối liền lưỡi dao dài 12cm, không có cán, tổng chiều dài 49cm (Bút lục số 123-126).
Cơ quan điều tra đã cho bị hại Nguyễn Tất D nh n dạng lại hình ảnh người gây thương tích cho D vào ngày 19/12/2021 là Nguyễn Ngọc P (Bút lục số 130 -134).
Tại bản kết lu n giám định pháp y số 21/2022/TgT ngày 23/02/2022 c a Trung Tâm pháp y tỉnh V và Công văn số 131/VB-PY ngày 19/9/2022 c a Trung Tâm pháp y tỉnh V kết lu n thương tích c a Nguyễn Tất D gồm: Vết thương vùng đỉnh kích thước #10cm do v t sắc gây nên n t sọ trán đỉnh trái được điều trị, hiện tại sẹo vết thương kích thước 6 x 0,2cm mất liên tục xương trán - xương đỉnh trái, tỷ lệ 23%; vết thương sau vai trái #2 cm do v t sắc gây nên được điều trị, hiện tại sẹo vết thương kích thước 1,5x0,5cm không di ch ng, cố t t, tỷ lệ 01%; vết thương ngón I tay phải #2cm do v t sắc gây nên, được điều trị, hiện tại sẹo vết thương kích thước 1,5x0,5cm, không gây cố t t, tỷ lệ 01%; vết thương ngón II tay phải kích thước #2cm được điều trị, hiện tại sẹo vết thương kích thước 2,5x0,2cm hạn chế gấp đốt I-II ngón II bàn tay phải, tỷ lệ 03%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể c a bị hại do thương tích gây nên hiện tại là 27%”.
Đối với người tên H1, P khai là bạn c a P, mâu thuẫn là do gi a H1 và D trước đó, không liên quan đến P, H1 cũng là người rũ P đi tìm D. Tuy nhiên, P khai không biết họ tên và địa chỉ c a người này. Đối với nhóm bạn c a H1 tham gia đánh D thì P khai khi gặp nh ng người này họ mang khẩu trang nên không biết mặt, không rõ họ tên và địa chỉ. Do đó, Cơ quan điều tra chưa điều tra, xác minh được hành vi c a các đối tượng này để xử lý theo quy định c a pháp lu t; khi nào điều tra, xác minh được sẽ xử lý theo quy định.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu honda SH c a H1 dùng để chở P đến nhà c a D, P không nhớ đặc điểm, không nhớ biển số kiểm soát nên Cơ quan điều tra chưa xác minh được.
Đối với căn nhà số F N, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long c a chị Lưu Mỹ H2 làm ch sở h u. Chị H2 trình bày thiệt hại tài sản là nh ng ô kính cửa tài sản không đáng kể nên không yêu cầu xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thu n bồi thường nên bị hại không còn yêu cầu bồi thường.
Cơ quan điều tra đã thu gi : 01 lưỡi dao dạng kiếm tự chế, lưỡi dao kích thước (37 x 4.5cm), lưỡi b ng kim loại, mũi nhọn, phần kim loại nối liền lưỡi dao dài 12 cm, không có cán, tổng chiều dài 49 cm; 01 bao kiếm dạng gỗ, bên ngoài ph sơn màu đen, phần đầu có quấn đoạn vải màu vàng, bao kiếm có kích thước (51 x 8) cm; 01 bao kiếm dạng vải màu đen kích thước (54 x 4,5 cm), mặt ngoài bao kiếm được may một đoạn vải màu đen dùng làm dây đeo; 01 cây kiếm dạng kiếm nh t, có lưỡi b ng kim loại màu trắng dài 26cm, mũi nhọn, cán b ng gỗ dài 14cm, có quấn dây màu đen; 01 cây kiếm có lưỡi b ng kim loại màu đen dài 53cm, phần cán có quấn băng keo và dây màu đen.
Tại bản Cáo trạng số: 69/CT-VKS.TPVL, ngày 19/10/2022 c a Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc P về tội “Cố ý gây thương t ch” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 c a Bộ lu t Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm;
- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội và phát biểu quan điểm các vấn đề khác liên quan đến vụ án: Khẳng định nội dung bản Cáo trạng c a Viện kiểm sát đã đề nghị truy tố đối với bị cáo Nguyễn Ngọc P về tội “Cố ý gây thương t ch” là có căn c , đúng người, đúng tội, đúng quy định c a pháp lu t; phân tích đánh giá tác hại c a hành vi mà bị cáo đã thực hiện, nh n định các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Cố ý gây thương t ch”; áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 c a Bộ lu t Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc P m c án từ 03 năm đến 04 năm tù; tịch thu tiêu h y 01 lưỡi kiếm tự chế, 02 cây kiếm và 02 bao kiếm; buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Lời trình bày của bị cáo: Do vì muốn giúp đỡ bạn bè, trong lúc đ ng tại hiện trường, do bị hại dùng dao tự chế chém bị cáo né nên trúng nhẹ ở tay và bị cáo dùng đá ném bị hại làm bị hại rớt dao bị cáo lượm, sau đó bị hại tiếp tục dùng dao khác tấn công nên bị cáo chém lại bị hại gây thương tích như cáo trạng miêu tả. Bị cáo không tranh lu n gì với Kiểm sát viên; lời nói sau cùng c a bị cáo: Bị cáo nh n ra sai trái h a sau này từ bỏ, xin Hội đồng xét xử tuyên cho bị cáo m c án thấp nhất để sớm chấp hành án xong hòa nh p cộng đồng làm ăn lương thiện giúp vợ nuôi con nhỏ (Hiện vợ đang mang thai).
- Lời trình bày của bị hại: Xác định lúc đầu bị cáo và H1 không có tấn công bị hại, do nhóm người bịt khẩu trang là bạn c a H1 dùng đá ném vào nhà và rượt chém bị hại trúng tay và vai, do nóng gi n bị hại cầm dao xông ra chém nhóm c a H1 nhưng đã chém trúng bị cáo, sau đó bị cáo chém bị hại như nội dung cáo trạng. Hiện nay, gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại xong, do bị hại chém bị cáo trước và thấy bị cáo biết ăn năn hối cải. Vì v y xin Hội đồng xét xử tuyên cho bị cáo m c án thấp hơn đề nghị c a Kiểm sát viên.
- Lời trình bày của người có liên quan Đặng Thị Ngọc Q: Số tiền bồi thường thiệt hại tôi không yêu cầu bị cáo trả lại. Vì tôi và bị cáo là vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn, hiện tôi đang mang thai (06 tháng) với bị cáo nên xin Hội đồng xét xử tuyên cho bị cáo m c án thấp nhất để sớm về phụ nuôi con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng ét ử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th tục quy định c a Bộ lu t Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Lời trình bày c a bị cáo Nguyễn Ngọc P tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai bị cáo, bị hại và người làm ch ng tại Cơ quan điều tra, biên bản sự việc phạm tội, biên bản xác định địa điểm gây án, kết lu n giám định pháp y và các tài liệu ch ng c khác thu th p được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đ cơ sở kết lu n r ng: Vào khoảng hơn 19 giờ 30 phút ngày 19/12/2021, bị cáo Nguyễn Ngọc P cùng với người bạn tên thường gọi là H1 đi cùng nhóm bạn c a H1 khoảng 10 người cầm theo dao đến nhà số F, đường N, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long mục đích tìm Nguyễn Tất D để nói chuyện do vào buổi sáng cùng ngày D đã đánh H1 tại quảng trường thành phố V.
Khi đến nơi, thấy D và H (B) đang ngồi phía trước nhà. Nhóm bạn c a H1 dùng đá ném về phía D và H thì H bỏ chạy vào trong nhà thì nhóm bạn c a H1 dùng dao tự chế tấn công D, nh ng người còn lại đ ng bên đ ng xung quanh. D bỏ chạy vào trong nhà đóng cửa lại nhưng không kịp thì bị nhóm người này đuổi theo chém trúng ngón tay. D chạy ra phía sau nhà lấy cây dao tự chế dùng để chặt dừa chém lại nhóm thanh niên này nhưng chém không trúng do D bị trượt chân làm rơi cây dao thì P nhặt cây dao c a D làm rơi để làm hung khí.
Lúc này, nhóm người c a P, H1 ở trước nhà ném đá, dao tự chế về phía D nên D tiếp tục lượm cây dao tự chế xông đến chém P 01 cái nhưng P đỡ được, P dùng cây dao nhặt được c a D có đặc điểm lưỡi dao dạng kiếm tự chế, lưỡi dao kích thước (37 x 4.5cm), lưỡi b ng kim loại, mũi nhọn, phần kim loại nối liền lưỡi dao dài 12 cm, tổng chiều dài 49 cm cầm tay phải chém vào vùng vai c a D. Sau đó, P tiếp tục chém D nhưng do D cuối người xuống tránh né nên trúng vào vùng đầu c a D. Sau đó D bỏ chạy, bị cáo ném dao tại hiện trường rồi bỏ về nhà.
Theo kết lu n giám định pháp y số 21/2022/TgT ngày 23/02/2022 c a Trung Tâm pháp y tỉnh V và Công văn số 131/VB-PY ngày 19/9/2022 c a Trung Tâm pháp y tỉnh V kết lu n thương tích c a Nguyễn Tất D: Vết thương vùng đỉnh kích thước #10cm do v t sắc gây nên n t sọ trán đỉnh trái được điều trị, hiện tại sẹo vết thương kích thước 6 x 0,2cm mất liên tục xương trán - xương đỉnh trái, tỷ lệ 23%; vết thương sau vai trái #2 cm do v t sắc gây nên được điều trị, hiện tại sẹo vết thương kích thước 1,5x0,5cm không di ch ng, cố t t, tỷ lệ 01%; vết thương ngón I tay phải #2cm do v t sắc gây nên, được điều trị, hiện tại sẹo vết thương kích thước 1,5x0,5cm, không gây cố t t, tỷ lệ 01%; vết thương ngón II tay phải kích thước #2cm được điều trị, hiện tại sẹo vết thương kích thước 2,5x0,2cm hạn chế gấp đốt I-II ngón II bàn tay phải, tỷ lệ 03%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể chung c a D do thương tích gây nên hiện tại là 27%”.
Dấu hiệu hành vi vừa nêu c a bị cáo Nguyễn Ngọc P đã cấu thành tội “Cố ý gây thương t ch”; tội danh và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 c a Bộ lu t Hình sự. Do đó, Cáo trạng c a Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long và lời lu n tội c a Kiểm sát viên tại phiên tòa đã truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn có căn c , đúng người, đúng tội và đúng pháp lu t.
Trong vụ án này, ngoài bị cáo còn có đồng phạm gồm người thanh niên tên H1 (Không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) và 01 số thanh niên bịt khẩu trang (Không xác định được lai lịch) là bạn c a H1 cùng tham gia gây thương tích cho bị hại. Nhưng quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa xác minh làm rõ để xử lý được nên đã tách ra tiếp tục xác minh điều tra, khi nào điều tra làm việc được sẽ xử lý sau vì v y khởi tố trong cùng vụ án và Viện kiểm sát không truy tố. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn c để xử lý trong cùng vụ án.
. Xét hành vi phạm tội c a bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, có lỗi; đã trực tiếp xâm phạm đến s c khỏe c a bị hại Nguyễn Tất D một cách trái pháp lu t, gây mất tr t tự trị an ở địa phương, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người đ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; đã nh n th c rất rõ hành vi dùng dao tự chế là hung khí nguy hiểm tấn công người khác là sai trái, nhưng vì bản chất hung hẳn, côn đồ, xem thường pháp lu t nên đã thực hiện hành vi phạm tội với ý th c quyết tâm cao.
Hiện nay, tình hình tr t tự trị an trên địa bàn thành phố V diễn biến rất ph c tạp, chỉ vì mâu thuẫn không lớn các thanh niên đã hành xử côn đồ, dùng hung khí tấn công người khác, làm bất ổn về an ninh tr t tự, dư lu n xã hội b c xúc. Để l p lại tr t tự kỷ cương, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả. Vì v y, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải xử lý nghiêm để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe nh ng trường hợp tương tự nh m phòng ngừa chung cho xã hội.
. Bản thân bị cáo vừa chấp hành án phạt tù 01 năm về tội “Gây rối tr t tự công cộng” chưa đưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng. Vì v y áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 c a Bộ lu t Hình sự.
Nhưng xét thấy, tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã th t thà nh n tội, thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã tác động gia đình khắc phục h u quả bồi thường thiệt hại cho bị hại và được bị hại có đơn xin xem xét giảm nhẹ 01 phần hình phạt cho bị cáo (Tại phiên tòa bị hại tha thiết in giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo); mặt khác, nguyên nhân sự việc do bị hại có gây sự đánh H1 là bạn c a bị cáo trước đó, tại hiện trường bị hại đã cầm dao tự chế chém bị cáo nhưng bị cáo tránh được và tấn công lại bị hại gây h u quả; sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã nh n thấy sai trái nên ch động đầu thú; hiện vợ c a bị cáo đang mang thai, rất cần sự giúp đỡ c a bị cáo. Vì v y, khi quyết định hình phạt xem các tình tiết này làm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 c a Bộ lu t Hình sự để giảm nhẹ 01 phần hình phạt để bị cáo sớm trở về gia đình lao động lương thiện phụ vợ nuôi con nhỏ.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nh n tiền bồi thường xong, không còn yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. V t ch ng đang tạm gi : Đối với 01 lưỡi kiếm tự chế, 02 cây kiếm và 02 bao kiếm là hung khí bị cáo, các thanh niên đi cùng bị cáo và bị hại dùng làm hung khí nên tịch thu tiêu h y.
. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Cố ý gây thương t ch”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 c a Bộ lu t Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc P 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù c a bị cáo được tính từ ngày bị bắt tạm giam từ ngày 03/8/2022.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ lu t Hình sự; căn c Điều 106 Bộ lu t Tố tụng hình sự. V t ch ng có trong biên bản giao nh n v t ch ng, tài sản ngày 19/10/2022 gi a Công an thành phố V và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long được xử lý như sau:
Tịch thu tiêu h y: 01 (Một) lưỡi dao b ng kim loại dạng kiếm tự chế, lưỡi có kích thước 37x4,5cm, mũi nhọn, phần kim loại nối liền lưỡi dao dài 12cm, không có cán, tổng chiều dài 49cm; 01 (Một) bao kiếm dạng gỗ có kích thước 51xx8cm, bên ngoài có ph sơn màu đen, phần đầu có quấn đoạn vải màu vàng; 01 (Một) bao kiếm dạng vải, màu đen có kích thước 54x4,5cm, mặt ngoài bao kiếm được may một đoạn vải màu đen dùng làm dây đeo; 01 (Một) cây kiếm dạng kiếm nh t, có lưỡi b ng kim loại màu trắng dài 26cm, mũi nhọn, cán b ng gỗ dài 14cm, có quấn dây màu xanh và 01 (Một) cây kiếm có lưỡi b ng kim loại màu đen dài 53cm, phần cán có quấn băng keo và dây màu đen.
3. Về án phí: Căn c Điều 23 c a Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 c a Quốc hội. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mư i lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, để xin Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm./.
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quốc T1 |