vanban.org

Bản án 81/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Điện Biên Tuyên án 25/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Lò Văn T (tên gọi khác: không) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng như sau: Tịch thu tiêu hủy các vật sau: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Lò Văn T (tên gọi khác: không) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2022/HS-ST
Ngày: 25-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Vương Kim Tám

Ông Sùng A Xà

- Thư ký phiên tòa: bà Vi Tố Uyên, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: ông Lê Thanh Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên và điểm cầu thành phần Trại Tạm giam Công an tỉnh Điện Biên, xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 87/2022/TLST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2022/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên đối với bị cáo:

Lò Văn T (tên gọi khác: không), sinh ngày 16 tháng 4 năm 1982, tại xã N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: bản C, xã N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn T, sinh năm: 1956 (đã chết năm 2020) và bà Cà Thị K, sinh năm: 1959; vợ Lường Thị B, sinh năm: 1982 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2003; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: chưa bị kết án và chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 17/4/2022, tạm giam từ ngày 20/4/2022 cho đến nay, có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên.

- Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn T: bà Nguyễn Thị B, Luật sư Công ty Luật TNHH Him Lam và cộng sự thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Điện Biên, có mặt tại điểm cầu thành phần Trại Tạm giam Công an tỉnh Điện Biên .

- Người chứng kiến:

+) anh Lò Văn H, sinh năm: 1990; nơi cư trú: bản Xôm, xã N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, vắng mặt không có lý do.

+) ông Lường Văn B, sinh năm: 1979; nơi cư trú: bản Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên, vắng mặt có lý do.

- Người làm chứng: anh Lò Văn Tr, sinh năm: 2003; nơi cư trú: bản L, xã N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, vắng mặt không có lý do.

- Người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần: ông Lê Đình Hải Nam, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên, có mặt tại điểm cầu thành phần.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 17/4/2022, bị cáo Lò Văn T đi kiểm tra ruộng lúa của gia đình ở bản C, xã N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên thì gặp 02 người thanh niên dân tộc Mông khoảng hơn 20 tuổi, 01 trong 02 người nam giới này hỏi bán 01 gói Heroine với giá 10 triệu đồng, do không mang tiền nên bị cáo T nói với người thanh niên này đợi để về nhà lấy tiền. Bị cáo T về nhà lấy 10 triệu đồng ra gặp người bán ma tuý, người này nhận tiền rồi đưa lại cho bị cáo T 01 gói Heroine được bọc bên ngoài bằng ni lon màu đen. Bị cáo Lò Văn T mang gói Heroine này về nhà chia thành 03 phần nhiều, ít khác nhau, trong đó phần Heroine nhiều nhất bị cáo T gói lại bằng mảnh nilon màu đen rồi cất giấu vào túi bên phải chiếc quần soóc bò màu xanh, bị cáo tiếp tục cho chiếc quần này vào bên trong chiếc túi xách màu đỏ; còn 02 phần Heroine nhỏ hơn, bị cáo T gói bằng ni lon màu đen và bằng mảnh giấy trắng kẻ ô ly rồi cất giấu trong chiếc ví giả da màu nâu. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo T cất chiếc ví giả da màu nâu có 02 gói nhỏ Heroine vào túi quần bên phải đang mặc và lấy chiếc túi xách màu đỏ bên trong có 01 gói Heroine, bị cáo nhờ em trai tên là Lò Văn T đưa ra khu vực bản H, xã N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên để đón xe khách biển kiểm soát 27F-000.51 của nhà xe Lò Thảo (bị cáo T là lái xe cho nhà xe này), mục đích bị cáo T mang theo ma tuý để sử dụng và có ai hỏi mua thì bán kiếm lời. Khi lên xe, bị cáo T để chiếc túi xách màu đỏ chứa Heroine trên ghế giường nằm tầng 2, dãy giữa, hàng ghế thứ 2 rồi vào ghế điều khiển xe ô tô. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo T điều khiển xe ô tô đến khu vực bản T, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên thì nhìn thấy Công an đang kiểm tra, bị cáo nhờ anh Lò Văn Tr là phụ xe mang chiếc túi xách màu đỏ xuống để ở hàng ghế cuối cùng của xe, sau đó bị cáo T lái xe vào trạm xăng để Công an kiểm tra. Quá trình kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện và bắt giữ bị cáo Lò Văn T thu giữ vật chứng gồm 01 gói Heroine có khối lượng 34,4 gam trong chiếc túi xách màu đỏ và 02 gói Heroine có tổng khối lượng 1,27 gam trong chiếc ví giả da màu nâu trong túi quần bên phải của bị cáo T.

Tại bản Kết luận giám định số: 565/KL-KTHS, ngày 26/4/2022, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên kết luận: 03 (ba) mẫu chất bột màu trắng ký hiệu M1, M2, M3 trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn T gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine. Khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Văn T là 35,67 gam.

Bản Cáo trạng số: 52/CT-VKS-P1 ngày 03/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm như sau: tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 15 năm đến 16 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Về án phí, căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Về vật chứng của vụ án, đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy 34,52 gam Heroine đã trừ mẫu vật gửi giám định đã được niêm phong là vật nhà nước cấm lưu hành; 01 túi xách màu đỏ bên ngoài có dòng chữ “những chiến binh sao vàng” có quai đeo; 01 quần soóc bò màu xanh nhạt; 01 ví giả da màu nâu là những công cụ, phương tiện phạm tội, vật không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn T không có ý kiến tranh luận về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố và bản luận tội của Kiểm sát viên. Đề nghị HĐXX xem xét điều kiện sinh sống của bị cáo: do bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đề nghị HĐXX xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo hình phạt tù ở mức đầu khung hình phạt; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về án phí hình sự sơ thẩm và vật chứng đề nghị xử lý theo quy định.

Người chứng kiến anh Lò Văn H, ông Lường Văn B trình bày tại cơ quan điều tra: khoảng 19 giờ ngày 17/4/2022 anh H và ông B được tổ công tác Công an tỉnh Điện Biên mời chứng kiến việc khám xét và bắt giữ đối với Lò Văn T là lái xe của nhà xe Lò Thảo chạy tuyến Điện Biên – Lạng Sơn tại Km 06+300 quốc lộ 279 thuộc địa phận bản T, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên. Thu giữ 01 gói chất bột màu trắng được gói ngoài bằng nilon màu đen tại túi bên phải chiếc quần soóc trong chiếc túi xách màu đỏ của Lò Văn T và 02 gói chất bột màu trắng trong chiếc ví giả da màu nâu trong túi quần bên phải của bị cáo T. Lò Văn T khai nhận với tổ công tác, 03 gói chất bột màu trắng bị thu giữ là Heroine, T mang lên Lạng Sơn để sử dụng và bán. Việc bắt giữ Lò Văn T là khách quan, T khai báo là tự nguyện, không bị ép buộc, không bị đánh đập.

Người làm chứng anh Lò Văn Tr khai nhận tại cơ quan điều tra: anh Trường là phụ xe của nhà xe Lò Thảo chạy tuyến Điện Biên – Lạng Sơn ngày 17/4/2022. Khi xe xuất bến do anh Lò Văn H điều khiển, xe đi đến xã N thì Lò Văn T lên xe và lái xe thay anh H. Khi xe đi gần đến cây xăng xã C, huyện Tuần Giáo thì có tổ công tác Công an đã kiểm tra, Lò Văn T bảo anh Tr mang chiếc túi màu đỏ của T đang để trên giường số 2 tầng 2 dãy giữa của xe xuống để ở giường cuối cùng của xe giúp T. Khi Công an lên kiểm tra đã hỏi túi của ai anh Trường xác nhận là túi của Lò Văn T, khi mở túi để kiểm tra Công an đã thu giữ được 01 gói nilon màu đen tại túi quần soóc bò đang cất trong túi của Lò Văn T. Việc T cất giấu ma túy trong túi anh Trường không biết.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên về tội danh cũng như về hình phạt. Trong phần tranh luận Kiểm sát viên và Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận đối đáp gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật. Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội:

Quá trình thẩm tra các tài liệu chứng cứ và kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử xác định:

Nhằm mục đích sử dụng và bán nên khoảng 13 giờ ngày 17/4/2022, bị cáo Lò Văn T mua 01 gói Heroine với giá 10 triệu đồng của đối tượng nam giới dân tộc Mông tại khu vực ruộng lúa của gia đình ở bản Cang, xã N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. Bị cáo Lò Văn T mang gói Heroine này về nhà chia thành 03 phần, trong đó phần Heroine nhiều nhất bị cáo T gói lại bằng mảnh nilon màu đen cất giấu vào túi bên phải chiếc quần soóc bò màu xanh để trong chiếc túi xách màu đỏ; còn 02 phần Heroine nhỏ hơn, bị cáo T gói bằng ni lon màu đen và bằng mảnh giấy trắng kẻ ô ly rồi cất giấu trong chiếc ví giả da màu nâu. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo T mang theo ma túy, đón xe khách biển kiểm soát 27F-000.51 của nhà xe Lò Thảo chạy tuyến Điện Biên – Lạng Sơn để lái xe ô tô theo hợp đồng đã ký. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo T điều khiển xe ô tô đến khu vực bản T, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên thì lực lượng chức năng đã phát hiện và bắt giữ, vật chứng thu giữ gồm 01 gói Heroine có khối lượng 34,4 gam được bị cáo T cất giấu chiếc túi xách màu đỏ và 02 gói Heroine có tổng khối lượng 1,27 gam trong chiếc ví giả da màu nâu trong túi quần bên phải của bị cáo T. Lời khai của bị cáo Lò Văn T phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01-04); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu (BL 24-27); sơ đồ vị trí xe (BL 28); biên bản mở niêm phong và xác định khối lượng lấy mẫu giám định chất ma túy và niêm phong lại vật chứng (BL 30-31); kết luận giám định (BL 39); biên bản làm việc (BL 64-69; lời khai của người chứng kiến Lò Văn H, Lường Văn B (BL 142-147); biên bản ghi lời khai của người làm chứng Lò Văn Tr (BL 150-153) và phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định bị cáo Lò Văn T đã mua 35,67 gam Heroine của một người không quen biết với 10 triệu đồng để sử dụng và bán tìm kiếm lợi nhuận. Hành vi của bị cáo Lò Văn T gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội, đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 52/CT-VKS-P1 ngày 03/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo về tội danh, điểm, khoản, điều luật áp dụng là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình Nhà nước nghiêm cấm. Hành vi của bị cáo xâm phạm chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà trực tiếp là hoạt động mua bán chất ma túy. Bị cáo biết việc Nhà nước cấm tất cả các hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy, nhưng nhằm tìm kiếm lợi nhuận và thỏa mãn nhu cầu ma túy của bản thân mà bị cáo bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo Lò Văn T được gia đình tạo điều kiện học tập văn hóa đến lớp 9/12, sau đó đi học nghề lái xe và lái xe thuê của Công ty TNHH Xuân Long. Bị cáo không có tiền sự, tiền án; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và Người bào chữa cho bị cáo áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về hình phạt chính:

Từ các phân tích tại các đoạn [1], [2], [3], Hội đồng xét xử thấy, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt tù có thời hạn tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để bị cáo cải tạo thành người có ích cho xã hội. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và Người bào chữa cho bị cáo đề nghị hình phạt tù đối với bị cáo là phù hợp, có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung:

Căn cứ vào biên bản xác minh tài sản của cơ quan cảnh sát điều tra và qua tranh tụng tại phiên tòa cho thấy, gia đình bị cáo không có tài sản có giá trị; bị cáo mất thu nhập do không đi lái xe được, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và tịch thu tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là phù hợp Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về vật chứng của vụ án: áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng như sau:

- 34,52 gam Heroine còn lại sau khi trích mẫu vật gửi giám định, là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 túi xách màu đỏ bên ngoài túi có dòng chữ “những chiến binh sao vàng” có quai đeo, 01 quần soóc bò màu xanh nhạt, 01 ví giả da màu nâu là công cụ, phương tiện cất giấu ma túy của bị cáo cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Masstel, bên trong lắp sim điện thoại số xxxxxxxxxx; 01 giấy phép lái xe mang tên Lò Văn T số xxxxxxxxxxxx do Sơ Giao thông vận tải tỉnh Điện Biên cấp ngày 11/3/2019; 01 căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx mang tên Lò Văn T do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 21/4/2021; 01 giấy phép lái xe mang tên Lò Văn T số xxxxxxxxxxxx do Sở Giao thông vận tải tỉnh Điện Biên cấp ngày 09/8/2021; 10.150.000 VND thu giữ của bị cáo Lò Văn T, quá trình điều tra đã làm rõ thuộc sở hữu hợp pháp của Lò Văn T, không liên quan đến vụ án. Do đó, ngày 15/7/2022, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên ban hành quyết định số 33/QĐ-XLTS trả lại toàn bộ các vật trên cho bị cáo T, ngày 03/8/2022 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên đã trao trả toàn bộ cho chị Lường Thị Binh (là vợ của bị cáo T). Việc xử lý vật chứng của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên đúng quy định tại điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí:

Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, bị cáo phải chịu án phí HSST.

Các vấn đề khác của vụ án

- Đối tượng nam giới bán ma túy cho bị cáo ngày 17/4/2022, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên không đủ thông tin để xác định được con người cụ thể, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

- Đối với Lò Văn T, Lò Văn Tr, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên đã làm rõ họ không biết việc bị cáo Lò Văn T cất giấu ma túy trong túi và trong người nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, xử lý.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, Người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố:

Bị cáo Lò Văn T (tên gọi khác: không) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn T 15 năm tù.Thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2022.

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng như sau:

Tịch thu tiêu hủy các vật sau:

- 01 (Một) gói niêm phong bằng phong bì công văn của văn phòng cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên kích thước khoảng 17cm x 23cm. Mặt trước phong bì có chữ viết: Vật chứng còn lại thu giữ của Lò Văn T; SN: 1982; Nơi thường trú: Bản C, xã N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. Vật chứng còn lại gồm: 01 mảnh giấy trắng kẻ ô ly, 02 mảnh nilon màu đen và 34,52 gam các cục chất bột màu trắng nghi Heroine. Mặt sau phong bì được dán kín các mép, trên mép dán có chữ ký và họ tên của Nguyễn Mạnh T, Ngô Thị T, Trần Sỹ N, Tòng Văn H, Lò Văn T cùng hai dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh Điện Biên. Toàn bộ gói niêm phong được dán kín bên ngoài bằng lớp băng dính màu trắng trong suốt;

- 01 (Một) chiếc quần soóc bò màu xanh nhạt đã cũ;

- 01 (Một) ví giả da màu nâu đã cũ;

- 01 (Một) chiếc túi màu đỏ có quai đeo nhãn hiệu “những chiến binh sao vàng” đã cũ.

3. Về án phí: áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, bị cáo Lò Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo Lò Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25/8/2022)./.

Cỡ chữ